Archive

Archive for the ‘Kinh tế’ Category

Tiến sĩ Alan Phan: “Cơ hội dành cho các bạn trẻ luôn hiện diện ở khắp mọi nơi”

April 13th, 2012 No comments

“Đừng sợ thất bại” là lời khuyên mà Tiến sĩ, doanh nhân lớn Việt kiều Mỹ Alan Phan gửi đến thế hệ trẻ trên con đường tìm kiếm sự thành công. Hiện ông đang được giới trẻ chú ý qua những bài viết và phân tích sâu sắc của mình về kinh tế – xã hội cũng như con người.”

Điều đó được thể hiện qua những thảo luận sôi nổi tại trang blog www.gocnhinalan.com của ông.

Bay Vút đã có dịp phỏng vấn Tiến sĩ Alan Phan về một số vấn đề liên quan đến người trẻ nhân dịp ông trở về Việt Nam.

“Tôi trở về Việt Nam đầu tư không mang nặng tính tiền bạc mà phần nhiều vì tình cảm. Tôi muốn chia sẻ đến các bạn trẻ kiến thức, kinh nghiệm cũng như các góc nhìn của tôi để họ có thêm những tư duy và góc nhìn mới cho cuộc đời của mình”, Tiến sĩ Alan Phan chia sẻ.

Bay Vút: Mặc dù thời tuổi trẻ của ông với thế hệ trẻ ngày nay có những khác biệt rất lớn nhưng xin ông cho biết một số điểm chung nhất định giữa hai thế hệ?

TS. Alan Phan: “Mẫu số chung giữa thời tuổi trẻ của tôi và các bạn trẻ bây giờ đó là có năng lực tràn trề, những suy nghĩ khá ngây ngô và nhiều lý tưởng rất ‘hoang tưởng’. Tuy nhiên, điểm chung lớn nhất mà ở mọi thời thế đều có là cơ hội dành cho các bạn trẻ luôn hiện diện ở khắp mọi nơi, vấn đề là họ có nhìn thấy và nắm bắt được nó hay không”.

“Còn cái khác biệt là thời bây giờ, con người ít phải âu lo về những chuyện no, đói hay chiến tranh. Thêm vào đó, cuộc cách mạng Internet đã giúp người trẻ có được những kho tàng kiến thức 24/7 với tốc độ của ánh sáng”.

Bay Vút: Suy nghĩ cũng như góc nhìn của ông đều rất trẻ và tràn đầy năng lượng. Ông có thể chia sẻ về bí quyết này?

TS. Alan Phan: “Đó là bản chất của mỗi con người. Như trong một bài viết, tôi có nhắc tới những người mới ngoài 20 tuổi nhưng đã già như cụ ông, sẵn sàng về hưu, suốt ngày chỉ muốn đi nhậu hay đi café ‘chém gió’. Đi làm thì chỉ muốn yên thân, kiếm vài ba đồng đưa vợ con cho qua chuyện. Dĩ nhiên, chưa chắc họ đã sai hoặc tôi đã đúng. Với họ, có thể đó là một đời sống hạnh phúc rồi”.

“Còn triết lý sống của tôi là cuộc đời như một cuộc phiêu lưu, một hành trình mà trên con đường đi mình sẽ gặp những niềm vui, những khó khăn, tất cả đều mang cho mình những cảm xúc mới mẻ. Tôi phải luôn hành động chứ tìm một góc nhỏ nào đó để an bình nghỉ hưu thì đấy không phải là bản chất của tôi”.

“Tuy nhiên, không phải lúc nào tôi cũng tươi trẻ như thế. Tôi cũng chịu đựng những mệt mỏi và đôi khi tự hỏi sao mình phải khổ vậy? Nhưng cuối cùng, bản chất năng động trong con người lại thắng thế. Đành biện hộ là vài ba chục năm nữa, tôi sẽ nằm sâu dưới sáu tấc đất rồi, lúc ấy tha hồ được yên thân nghỉ ngơi”.

Bay Vút: Có một câu nói được ông ưa thích, đó là: “Tất cả bắt đầu từ suy nghĩ”. Tuy nhiên, để có được suy nghĩ tốt thì phải có sự giáo dục tốt và nền giáo dục dành cho người trẻ hiện nay vẫn chưa được tốt lắm. Vậy theo ông, để suy nghĩ tốt thì họ nên bắt đầu từ đâu?

TS. Alan Phan: “Mình có thể đổ lỗi cho ngày hôm qua nhưng không thể đổ lỗi cho ngày hôm nay và tương lai. Có thể người trẻ chưa được hưởng một nền giáo dục không tốt, họ sinh ra trong một môi trường mà sự vô cảm càng ngày càng gia tăng và đôi khi thiếu cả sự dạy dỗ đúng đắn của gia đình nhưng đó là những chuyện đã qua”.

“Ngày hôm nay là một ngày mới. Những việc mình làm hôm nay và trong tương lai hoàn toàn nằm trong tay mình, cái tư duy mới của mình phải bắt đầu từ ngay bây giờ. Và bắt đầu như thế nào thì thực tình nền giáo dục qua Internet ngày nay phong phú vô cùng. Vấn đề là lựa chọn những gì mình thích và ứng dụng triệt để trên con đường mình đã chọn”.

“Nhiều người cũng hỏi làm sao để bắt đầu? Đơn giản nhất là vào Google và tìm hiểu hàng triệu kiến thức trong đó. Cốt lõi của vấn đề là khả năng chọn lựa và chấp nhận của các bạn. Đừng đổ thừa cho giáo dục hay cho quá khứ”.

Bay Vút: Rất nhiều người trẻ đọc những điều ông viết ra trên blog. Giả sử họ làm theo lời khuyên của ông và gặp thất bại thì ông sẽ nói gì với họ?

TS. Alan Phan: “Đừng sợ thất bại, đó là kinh nghiệm của đời tôi. Càng nhiều thất bại thì càng đến gần thành công lớn hơn. Sau mỗi lần thất bại, tôi thường bùng lên khá hơn lúc trước vì được tôi luyện mạnh hơn. Hãy coi thất bại như một người bạn, một người thầy để dạy mình”.

“Khi người ta coi thất bại là kẻ thù thì thất bại sẽ theo đuổi bạn hoài. Thực ra, những gì tôi viết chẳng phải là lời khuyên, đó chỉ là những suy nghĩ, trải nghiệm cá nhân. Tôi không bao giờ khuyên hay bảo người khác phải làm gì cho đời mình. Mỗi người tự do lựa chọn một lối sống”.

Bay Vút: Sự thay đổi luôn cần một đích đến và một hệ quy chiếu để so sánh. Nếu như giới trẻ Việt Nam hiện nay cần sự thay đổi lớn về mặt tư duy thì cái đích đến và hệ quy chiếu so sánh ấy là gì, thưa ông?

TS. Alan Phan: “Cái đích đến của mỗi cá nhân đều từ bản chất riêng. Bạn muốn đi đến đâu, làm cái gì thì bạn phải tự suy xét, định đoạt và chấp nhận hậu quả. Sự thay đổi theo chiều hướng nào, việc muốn loại thải hay thu nạp cái gì thì mỗi người phải tự biết. Không ai có thể nói hay làm thay bạn được”.

Bay Vút: Ông cảm thấy thế nào khi hiện nay sách cũng như blog của ông thu hút được nhiều bạn đọc?

TS. Alan Phan: “Đối với người viết thì càng có nhiều người đọc, họ càng có hứng thú và khích lệ cho sự cố gắng của mình. Tuy nhiên mình cũng đừng nên nghĩ đó là một cái gì quan trọng hay ghê gớm. Có một bài tôi viết trên Vietnamnet được hơn 22.000 người đọc. Tôi mới hỏi lại Vietnamnet là bài nào có nhiều người đọc hơn? Họ cho biết là bất cứ cái bài nào liên quan tới Cường Đôla với Hồ Ngọc Hà thì trung bình có tới sáu trăm nghìn người đọc”.

“Thành ra mình phải hiểu rõ vị trí nhỏ nhoi của mình trong xã hội. Chỉ có một số ít lượng người quan tâm đọc những gì mình viết đã là niềm vui rồi”.

Bay Vút: Ông từng là giáo sư thỉnh giảng tại các trường đại học Mỹ và Trung Quốc. Trong tương lai, ông có nghĩ tới việc sẽ làm công việc này tại các trường ĐH Việt Nam không?

TS. Alan Phan: “Tôi đã bỏ dạy từ lâu rồi. Cách đây khoảng 10 năm tôi dạy ở hai đại học ở Thượng Hải. Theo tôi, các sinh viên Châu Á rất thụ động. Có lẽ vì nhiều giáo sư Châu Á lên giảng đường ‘thao thao bất tuyệt’ trong khi sinh viên ở dưới cứ cắm cúi ghi chép”.

“Cách dạy của tôi khác hơn. Tôi cho sinh viên đọc trước các bài ở nhà, hy vọng họ nắm được vấn đề. Khi vào lớp tôi dành khoảng 15 phút để điểm lại một vài vấn đề quan trọng hay những gì họ chưa hiểu. Thời gian còn lại tôi muốn họ đứng lên bàn cãi, thảo luận những gì họ đã đọc”.

“Tôi muốn họ phản biện lại những gì đã đọc vì chưa chắc các tác giả hay tôi đã đúng nhưng đáng tiếc là các cuộc thảo luận hầu như chưa bao giờ xảy ra vì sinh viên lười biếng đọc trước và chỉ thích ngồi im. Thành ra tôi cảm thấy hụt hẫng, cứ phải độc thoại. Sau một thời gian, tôi chán không muốn dạy. Ngoài ra, đến kỳ thi thì chấm bài toàn thấy ‘copy’ với ‘paste’ từ Google nên tôi nghĩ sự đóng góp của tôi cho giáo dục có lẽ không hiệu quả”.

Bay Vút: Một câu hỏi cuối liên quan đến cá nhân ông. Theo ông chia sẻ thì hạnh phúc đối với mình là sự tự do. Vậy sống ở Việt Nam ông có cảm thấy hạnh phúc không?

TS. Alan Phan: “Cái tự do tôi muốn nói là tự do về suy nghĩ, về phát ngôn, về quyền yêu và ghét… Một thứ cũng rất quan trọng là tự do về những lo lắng tiền bạc, muốn làm gì thì làm, kể cả những điều ngu xuẩn”.

“Ở đây, môi trường hơi khép kín nên mỗi lần tôi muốn tìm tự do hoàn toàn thì phải bay sang Thái Lan hay Singapore. Tuy nhiên, thực tình, Việt Nam cũng là một nơi ‘okie’ để sống. Có thể nói cả thế giới là một ‘nhà tù’ nhưng nếu được sống trong một ‘nhà tù’ rộng rãi như thế giới thì cũng thoải mái rồi”.

Nhuệ Giang thực hiện

Bài đăng trên bayvut.com.au ngày 22/11/2011

CEO vs COO

September 19th, 2011 No comments

You can probably rate the effectiveness of a CEO by the stack of papers on his desk. The larger the stack, the less he or she is probably operating as a CEO. The larger the stack, the more he or she is probably operating as a COO.

As I transitioned, over the years, from an entrepreneur who is operating a one or two-person company into someone who is operating a company employing several hundred people, it occurred to me that the size of the stack has progressively diminished.

I have always been somewhat retentive with respect to the configuration of my desk. Whether I was in college, law school, or even in my law or business office, I always maintained a stack of papers, which was my “In” basket, on the left-hand side of my desk.

If an action had not been generated, it simply sat there in the stack. If I took an action on it, I made the notes or dictated and passed it along. I might get that think back at some future time but so be it.

In the meantime, it was somebody else’s problem to act on.

Over the years, I watched the nature and status of that stack shift, not only based on my effectiveness but also based on how I was operating as a manager.

Regardless of whether I was a start-up entrepreneur, someone operating at a COO capacity, or someone operating at a CEO capacity I could always tell how effective I was based upon the size of the stack. The larger the stack, the less effective I was at running an actual organization. The smaller the stack, the more the reverse was true.

An entrepreneur’s responsibility is to do absolutely everything that needs to be done to get the job accomplished correctly. Therefore, the stack is immense. You are individually taking personal responsibility for everything to be done, right down to the last farthing of money in your bank account. It’s understandable that the stack is high, and it rightfully should be, because you simply do not have the resources to be able to hire people to delegate to, not only to monitor objectives but also to accomplish those objectives.

A COO operates in fundamentally the same way with one exception.

Whereas an entrepreneur is actually doing it himself or herself, a COO is still personally doing it through other people. The bottom line, however, is that the COO is responsible. Therefore, whether the job is ultimately acquitted correctly or not is, in the final analysis, the responsibility of the COO. The COO may do something himself or herself. The COO may choose to delegate it. But either way, the COO is responsible. Therefore, the stacks shrink, but it’s still there.

The CEO moves along that continuum. The CEO’s responsibilities are to operate through executive and management teams, not through operational teams. Therefore, what should be in front of the CEO are issues associated with performance commitments from his or her executive or management teams and external communications, which need to be either handled or farmed out. Otherwise, the entire output of the CEO’s desk is the intellectual property of the CEO: those things a CEO is thinking that he or she intends on transferring to the executive or management team.

The larger the stack on the CEO’s desk, the less effective the CEO’s relationship to the executive and management teams. The smaller the stack, the more effective.

Over the past years, I remember reading about executives in major cities such as New York, San Francisco, Los Angeles, and so forth, who literally have one or two pieces of paper on their desks. Nothing else! They are not working on any component of operations. They are working on the company’s present, through executives and managers, and on its future, represented by nothing other than a one or two-page synopsis sitting on their desks. Otherwise, their desks were clear. Cleaned. Pledged. Polished.

I wondered how that could be, but I understand it better now.

The more I have to operate as an entrepreneur or as a COO, the less I have the opportunity to operate as a CEO. And, if I am truly operating as a CEO, I continue to monitor operations on an exception basis through the management team, but I remove myself from operational components of the company. What I am spending my time on is sculpting how I want it to look based on what it looks like today. That might take 100 employees or 1,000 employees. But it probably takes no more than three or four items on my desk at any one time.

The transition from entrepreneur through COO to CEO has been simultaneously interesting, challenging, and agonizing…but, I wouldn’t trade the experience in a million years.

Original writing date: November 2002

(Source: http://www.ourlifeinbusiness.com/2008/02/ceo-vs-coo/)

Cách tính giá vàng

October 6th, 2010 No comments

15/09/2009

TÍNH GIÁ VÀNG (Giá nhập khẩu trực tiếp)

(Giá Thế giới) 902 + 1.1 = 903.1 (1)
(1) 903.1 X (Thuế Nhập khẩu) 1% = 9.031 (2)
(1) + (2) 903.1 + 9.031 = 912.131 (3)
(3) 912.131 X (Tỷ giá USD) 17500 = 15.965.478 (4)
(4) 15.965.478 / 0.8294 = 19.249.430 (5)
(5) 19.249.430 + (Phí gia công SJC) 30.000 =19.279.430 đồng/1lượng SJC

1.1: Phí Bảo hiểm, phí chuyển tiền, Hải quan, vận chuyển…
0.8294: chỉ số quy đổi từ ounce sang lượng

Tải về và cài đặt.

http://kcast.kitco.com/

- Sau khi bạn tải và cài đặt phần mềm Kitc.Chạy chương trình bạn thấy thành Taskbar thấy chỉ số kitco hiện ra. Ví dụ: Gold|801.40….

Khi đó giá vàng hiện tại là:

Giá vàng= {Kitco(chỉ số) x USD (Giá đô la)}/8.3

* Trang web kitco.com là bảng giao dịch trực tuyến.

- Giá vàng thế giới giao dịch trên bảng giao dịch trực tuyến Kitco.com (giá vàng được cập nhật 24h). Và công thức này được diễn giải như sau:

Ví dụ:

+ Hiện tại chỉ số Kitco đang là: 893 (Ngày 24.01.08 vào lúc 4:00h)
+ Tức là 893 USD/ounce.

* 1 ounce vàng bằng bao nhiêu chỉ vàng?

Bảng quy đổi đơn vị trọng lượng vàng bạc đá quý quốc tế.

1 Ounce ~ 8.3 chỉ ~ 31.103 gram
1 ct ~ 0.053 chỉ ~ 0.2 gram
1 lượng = 1 cây = 10 chỉ =37.5 gram.
1 chỉ = 10 phân = 3.75 gram.
1 phân = 10 ly = 0.375 gram.
1 ly = 10 zem = 0.0375 gram.
1 zem= 10 mi = 0.00375 gram.

Chúng ta đã biết

1 ounce ~ 8.3 chỉ.

Như vậy ta sẽ có công thức:

893USD ~ 8.3 chỉ.

8.3 chỉ = 893 x (Giá đô la/Hiện tại)
1 Chỉ vàng = {893 x (Giá USD/Hiện tại)}/8.3

Trong thời điểm hiện tại tôi tính ra như sau:

1 Chỉ vàng = (893 x 15.98)/8.3= 1.719.293 VNĐ.

Giá vàng ở đây là 9999.

Thanh toán trên điện thoại di động, xu hướng tương lai

October 6th, 2010 No comments

Tháng 12/2009

Với số lượng điện thoại di động lưu thông dự kiến đạt tới 5 tỷ trong năm 2012 (theo Datamonitor 2008), thương mại di động (Mobile Commerce) nổi lên như là một lựa chọn tất yếu.

Trong những năm qua, thị trường di động thế giới đã có những bước phát triển đột phá, đặc biệt ở các thị trường mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Việt Nam, Indonesia… Với số lượng điện thoại di động trong lưu thông dự kiến đạt tới 5 tỷ trong năm 2012 (theo Datamonitor 2008), thương mại di động (Mobile Commerce), nổi lên như là một lựa chọn tất yếu. Riêng khu vực Châu Á – Thái Bình Dương được dự đoán sẽ chiếm một phần ba tổng giá trị thương mại di động toàn cầu vào năm 2009 (ước tính khoảng 80 tỷ USD).

Trên thế giới hiện nay có 3 mô hình triển khai Mobile Commerce chính, đều có điểm chung là cho phép người sử dụng thực hiện giao dịch, thanh toán mọi lúc, mọi nơi thông qua điện thoại di động. Tuy nhiên vai trò của các bên tham gia trong các mô hình này có đặc điểm khác biệt, tùy thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế – xã hội, cơ sở hạ tầng, chính sách quản lý, thói quen tiêu dùng… tại mỗi quốc gia.

Sơ đồ dự đoán doanh thu từ thương mại di động. (Nguồn: Frost & Sullivan)

Mô hình Ngân hàng làm chủ đạo (Bank-led Model)

Mô hình này phổ biến tại các nước có dịch vụ ngân hàng rất phát triển và đa phần người dân có tài khoản ngân hàng, ví dụ Anh, Mỹ, Canada… Các ngân hàng xây dựng những ứng dụng cho phép khách hàng sử dụng điện thoại di động để thực hiện các giao dịch và thanh toán trên tài khoản khách hàng của mình. Mô hình này có thể được hiểu là dịch vụ ngân hàng trên điện thoại di động (Mobile banking).

Bên cạnh kênh giao dịch ngân hàng truyền thống như tại quầy giao dịch hay tại máy ATM, thì Mobile banking ra đời đã thực sự đem lại phương thức giao dịch thuận lợi cho khách hàng. Khách hàng không phải đến các ngân hàng mà vẫn có thể thực hiện giao dịch bất cứ lúc nào, ở đâu mình muốn. Các giao dịch có thể được thực hiện qua kênh Mobile banking là truy vấn thông tin tài khoản, chuyển tiền giữa các tài khoản ngân hàng, thực hiện thanh toán hóa đơn, dịch vụ… Do tất cả giao dịch thanh toán đều dựa trên tài khoản tại ngân hàng nên có tính an toàn cao.

Điểm yếu của mô hình này là khách hàng bắt buộc phải có tài khoản mở tại ngân hàng trước khi sử dụng dịch vụ, đối với những nước đang phát triển có tỷ lệ dân cư dùng dịch vụ ngân hàng ít thì đây là một mô hình triển khó triển khai ở diện rộng.

Mô hình Công ty di động làm chủ đạo (Operator-led Model)

Trong mô hình này, các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động chủ động đứng ra cung cấp dịch vụ thanh toán cho thuê bao sử dụng dịch vụ của mình. Mô hình này đặc biệt phát triển tại các thị trường mới nổi có đặc điểm sau:

- Phần đông dân số chưa tiếp cận với các dịch vụ ngân hàng.

- Không có thói quen sử dụng các phương tiện phi tiền mặt trong thanh toán.

- Cộng đồng sử dụng điện thoại di động lớn.

- Nhu cầu chuyển tiền, thanh toán nhỏ lẻ trong dân cư cao.

Để sử dụng dịch vụ, khách hàng chỉ cần là thuê bao của nhà mạng, không nhất thiết phải có tài khoản tại ngân hàng. Sau khi đăng ký dịch vụ, khách hàng được cấp một tài khoản dưới dạng Ví điện tử và số tài khoản chính là số điện thoại di động của mình. Người sử dụng có thể nạp tiền vào Ví thông qua nhiều cách thức: nộp tại đại lý của Công ty viễn thông, nạp tiền qua thẻ cào (của Công ty Viễn thông phát hành) hoặc chuyển từ tài khoản ngân hàng… Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch như chuyển tiền sang một Ví điện tử (thuê bao điện thoại di động) khác, thanh toán hàng hóa dịch vụ, rút tiền mặt từ Ví điện tử…

Ưu điểm của loại hình dịch vụ này nằm ở tính đơn giản, tiện dụng (khách hàng không cần mở tài khoản ngân hàng), giao dịch nhanh chóng (thời gian giao dịch tính bằng thời gian gửi SMS) và chi phí rẻ (theo cước SMS của nhà mạng).

Một ví dụ sinh động cho việc phát triển mô hình này là dịch vụ M-PESA tại Kenya. Đây là dịch vụ được hợp tác phát triển bởi 2 công ty viễn thông lớn tại Kenya là Safaricom và Vodafone, cung cấp các dịch vụ tài chính cho các thuê bao của Safaricom trên toàn lãnh thổ Kenya. Cho đến nay đã có hơn 7 triệu khách hàng sử dụng thường xuyên, với số lượng giao dịch trung bình 2 triệu giao dịch/ngày và việc chuyển tiền giữa các thuê bao di động đã trở nên rất phổ biến trong đời sống của người dân Kenya. Mô hình M-PESA đã và đang được tiếp tục nhân rộng ra các nước khác như Tanzania, Afghanistan…

Dù mô hình Operator-led có những ưu điểm nêu trên, nhưng do dịch vụ được triển khai bởi các Công ty viễn thông nên những kinh nghiệm quản lý thanh toán, quản lý rủi ro không thể bằng ngân hàng. Hơn nữa mỗi quốc gia có những quy định, chính sách riêng về thanh toán, nên nhìn chung các nhà quản lý vẫn có cái nhìn khá thận trọng khi triển khai mô hình này.

Mô hình hợp tác ngân hàng – viễn thông (Partnership model)

Trong mô hình này, ngân hàng, công ty viễn thông và các nhà cung cấp giải pháp cùng hợp tác để đưa ra sản phẩm thanh toán đảm bảo sự tiện lợi và độ xâm nhập rộng khắp vào khối khách hàng thuê bao di động, đồng thời vẫn duy trì được sự quản lý chặt chẽ về tài chính của ngành ngân hàng.

Trong mô hình này, ngân hàng sẽ đóng vai trò quản lý nguồn tiền và xử lý các nghiệp vụ thanh quyết toán, quản lý rủi ro trong khi các công ty di động phụ trách việc kinh doanh, giao dịch trực tiếp với khách hàng, các điểm bán lẻ và dịch vụ khách hàng.

Theo số liệu của Hiệp hội GSM thế giới, đến năm 2012 toàn thế giới sẽ có 1,2 tỷ người có điện thoại di động nhưng không có tài khoản ngân hàng, chủ yếu tập trung tại các nước đang phát triển khu vực châu Á, Nam Mỹ và Châu Phi. Tại những thị trường nói trên, mô hình hợp tác giữa Ngân hàng, Viễn thông kết hợp những ưu điểm của 2 mô hình nêu trên và đang là xu thế chung nhờ những lợi ích nó mang lại:

- Ngân hàng tiếp cận được cơ sở khách hàng rộng lớn của Công ty viễn thông để cung cấp các giải pháp thanh toán, hướng khách hàng từ chưa sử dụng đến việc sử dụng các dịch vụ tài khoản ngân hàng.

- Công ty viễn thông cung cấp thêm các dịch vụ tài chính gia tăng cho khách hàng được Ngân hàng hỗ trợ về các giải pháp tài chính, năng lực quản lý giao dịch và hạn chế rủi ro phát sinh ở mức thấp nhất .

- Khách hàng có thêm một kênh thanh toán an toàn, tiện lợi với chi phí rẻ hơn so với loại hình giao dịch ngân hàng truyền thống.

- Các nhà cung cấp giải pháp hỗ trợ ngân hàng và các công ty viễn thông trong kết nối hệ thống, xử lý giao dịch và hỗ trợ nghiệp vụ, giảm đầu tư chung của xã hội.

- Các cơ quan chức năng ngành ngân hàng đảm bảo vai trò quản lý nhà nước thông qua các quy định áp dụng thông qua hệ thống ngân hàng tham gia cung ứng dịch vụ.

Mô hình nào cho Việt Nam?

Với dân số hơn 80 triệu người trong khi chỉ có khoảng 12 triệu người có tài khoản ngân hàng(tương đương với 15% dân số) chứng tỏ độ bao phủ dịch vụ ngân hàng cá nhân là thấp. Hiện cả nước có khoảng 17 triệu chủ thẻ kể cả quốc tế và nội địa, tuy nhiên thực tế thanh toán tiền mặt vẫn đóng vai trò chủ yếu trong các giao dịch bán lẻ. Người dân và cả các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ đều chưa quen với việc dùng thẻ ngân hàng cho mục đích thanh toán vì vậy thanh toán bằng thẻ qua POS vẫn còn những bất tiện nhất định.

Tại Việt Nam có 7 nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động đang hoạt động, phủ sóng rộng khắp mọi miền đất nước. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, số lượng thuê bao di động của Việt Nam tính đến tháng 11 đạt 80 triệu thuê bao, bình quân một người dân sở hữu một thuê bao điện thoại di động. Việc sử dụng điện thoại di động không chỉ phổ biến trong lớp trẻ hay ở thành thị mà đã phổ biến với mọi đối tượng. Có thể nói Việt Nam là thị trường có tiềm năng rất lớn để khai thác các dịch vụ thanh toán di động.

Có hơn 50 ngân hàng đang hoạt động và tham gia trong thị trường ngân hàng bán lẻ Việt Nam. Các ngân hàng đang cạnh tranh nhau gay gắt thông qua việc không ngừng cải tiến và đưa ra những sản phẩm dịch vụ mới, trong đó có các sản phẩm Mobile banking (mô hình Bank-led). Tuy nhiên các sản phẩm ngân hàng cung cấp mới chỉ dừng lại ở một số chức năng nhất định và chưa đáp ứng hết nhu cầu thanh toán của khách hàng. Song song với đó, một số sản phẩm Ví điện tử đã ra đời song chỉ hỗ trợ các giao dịch thanh toán trên internet, thị trường thanh toán bằng di động vẫn đang bỏ ngỏ.

Trong bối cảnh đó, việc cung cấp các giải pháp thanh toán trên điện thoại di động cho đối tượng khách hàng không có tài khoản ngân hàng (unbanked) là hết sức cần thiết. Điều này sẽ góp phần tạo ra ứng dụng thanh toán tiện lợi cho khách hàng, đem lại nguồn lợi không nhỏ cho nhà cung cấp dịch vụ di động; đồng thời góp phần thúc đẩy xu hướng không sử dụng tiền mặt, tiết kiệm chi phí cho xã hội và góp phần vào sự phát triển của nền kinh tế.

(Nguồn: Công ty CP DV Thẻ Smartlink)

Việt Nam "nhập siêu" EPC từ Trung Quốc

August 1st, 2010 No comments

Lấn sân hầu hết lĩnh vực công nghiệp thượng nguồn

Cho đến nay, chưa có một thống kê chính thức đầy đủ nào về vai trò tổng thầu EPC của các doanh nghiệp Trung Quốc trong các công trình ở Việt Nam, song, các quan chức ngành công thương đều khẳng định, tỷ lệ trúng thầu EPC của Trung Quốc phải là 90%.

Tổng hợp sơ bộ tình hình hợp tác kinh tế Việt Nam- Trung Quốc của Bộ Công Thương hồi tháng 7/2009 cho thấy, có tới 30 doanh nghiệp Trung Quốc đang tham gia làm tổng thầu EPC hoặc là đối tác đầu tư cho 41 dự án ở Việt Nam.

Trong đó, có 12 dự án sản xuất và phân phối điện, 4 dự án dầu khí, 5 dự án khai khoáng, 5 dự án luyện kim, 5 dự án hóa chất, 3 dự án cơ khí và 7 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp nhẹ và dịch vụ: viễn thông, đào tào, dệt may, nhựa, và thuốc lá…

Điều đáng chú ý là, 41 dự án này đều là dự án kinh tế trọng điểm, hoặc dự án thượng nguồn, liên quan mật thiết tới tài nguyên quốc gia hoặc an ninh năng lượng.

Đồng thời, chủ đầu tư đều là trụ cột kinh tế Việt Nam như Tập đoàn Than – Khoáng sản, Tập đoàn Dầu khí, Tập đoàn Điện lực, Tổng công ty Thép, Tổng công ty Hóa chất…

Nhiệt điện Hải Phòng do Trung Quốc làm tổng thầu, bị chậm tiến độ 2 năm. Ảnh: Công ty Nhiệt điện Hải Phòng.

Cũng theo thống kê sơ bộ này, lĩnh vực điện của Việt Nam thu hút các nhà thầu Trung Quốc nhiều nhất, vì tổng số dự án là áp đảo so với các ngành khác.

Trong đó, nổi danh nhiều nhất và gắn với các gói thầu “tỷ đô” là Tập đoàn điện khí Thượng Hải – Trung Quốc (SEC) và Tập đoàn Đông Phương Trung Quốc.

Năm 2007, SEC đã nhận thầu EPC cho cả  2 công trình nhiệt điện Quảng Ninh 1 và Quảng Ninh 2 với giá trị mỗi gói EPC khoảng trên 400 triệu USD.

Đến tháng 10/2009, SEC tiếp tục được EVN tín nhiệm với gói thầu khổng lồ hơn, trị giá 1,3 tỷ USD tại dự án  nhiệt điện Vĩnh Tân 2.

Tương tự, Tập đoàn Đông Phương Trung Quốc liên doanh với Marubeni Nhật Bản hồi năm 2009, chỉ nhận gói thầu tới 500 triệu USD ở dự án nhiệt điện Hải Phòng 1. Song, đến tháng 3/2010, tập đoàn này đã tiếp tục trúng gói thầu EPC trị giá tới 1,4 tỷ USD tại dự án nhiệt điện Duyên Hải 1.

Song, có lẽ, gói thầu khổng lồ nhất phải là gói EPC cho dự án Trung tâm nhiệt điện Kiên Lương do Tập đoàn tư nhân Tân Tạo làm chủ đầu tư.  Gói thầu này trị giá tới gần 2 tỷ USD và thuộc về Tập đoàn China Huadian Engineering (CHEC) của Trung Quốc, vừa được ký hồi tháng 7/2010.

Bên cạnh đó, những “thương hiệu Trung Quốc” quen thuộc trong ngành điện Việt Nam từ năm 2007-2008, phải kể đến là Tập đoàn Cáp Nhĩ Tân (HPE), Tập đoàn xây dựng Chengda, SFECO, Tổng công ty thiết bị nặng Trung Quốc (CHMC). Ở vai trò mua bán và đầu tư điện, không thể không nhắc tới công ty Vân Nam Trung Quốc.

Lĩnh vực hấp dẫn thứ 2 ở Việt Nam và đến nay, gần như 100% gói thầu EPC đều do Trung Quốc chiếm lĩnh là khai khoáng nhôm và bauxit.

Công trường bauxit nhôm Lâm Đông cũng chậm tiến độ (ảnh: tainguyenmoitruong.com.vn)

Ở lĩnh vực này, công ty TNHH công trình quốc tế nhôm Trung Quốc (Chalieco) đã gắn bó với tổ hợp Bauxit nhôm Lâm Đồng của TKV với giá trị gói thầu EPC là 466 triệu USD. Đây cũng là dự án “khủng” nhất của ngành khai khoáng Việt Nam, tổng vốn đầu tư 8.000 tỷ đồng, hứa hẹn một ngành công nghiệp nhôm sáng lạn trong tương lai.

Chỉ 2 năm sau, mặc dù việc triển khai dự án trên chậm tiến độ, song Chalieco vẫn tiếp tục nhận được sự “sủng ái” của TKV khi lại được ký hợp đồng trực tiếp nhận thầu ở dự án Alumin Nhân Cơ – Đăk Nông với trị giá lớn hơn: 499,2 triệu USD.

Trong lĩnh vực hóa chất, nổi bất nhất vẫn là dự án xây dựng nhà máy phân đạm Cà Mau do PVN làm chủ đầu tư, cũng do liên danh nhà thầu Trung Quốc gồm Wuhan Engieering Co (WEC) và China National Machinery Import and Export Copr. (CMC) thực hiện. Gói EPC này có giá trị tới 575 triệu USD.

Ngoài ra, làm EPC ở lĩnh vực luyện kim cho Việt Nam, khai thác quặng sắt, có Tập đoàn khoa học và thương mại luyện kim Trung quốc MCC, Gang thép Côn Minh, ở lĩnh vực dầu khí là sự xuất hiện của Tập đoàn Quốc gia hải dương Trung quốc CNOOC, Tập đoàn A Xin Ao Trung Quốc, Tập đoàn CMG…

Trung Quốc sẽ “hút” hàng tỷ USD của Việt Nam?

Trung Quốc luôn là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam. 6 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã nhập siêu hàng hóa từ nước này tới 6,2 tỷ USD, chiếm 80% tổng mức nhập siêu từ các nước.

Tuy nhiên, với phác thảo trên thì thứ “hàng hóa” mà chúng ta đang nhập siêu từ Trung Quốc với giá trị kim ngạch khủng khiếp nhất chính là các gói thầu EPC.

Hồi năm ngoái, Hiệp hội cơ khí Việt Nam đã gửi văn bản tới Thủ tướng Chính phủ phân tích về sự thua thiệt khi để nước ngoài lấn sân “thị trường EPC”.

Hiệp hội này đã ước tính, ba ngành điện, xi măng và alumin của Việt Nam trong giai đoạn đến 2025, sẽ cần tới khoảng 107 tỷ USD để đầu tư mua máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất.

Trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng, mỗi năm, chúng ta phải thực hiện một khối lượng từ 25-30 tỷ USD, chiếm 35% GDP quốc gia và trong đó, sẽ phải nhập 10-12 tỷ USD tiền vật tư, thiết bị.

Tiếc thay, với cơ chế đấu thầu ở Việt Nam thực chất là đấu thầu về giá, không có nhà thầu nào có thể vượt qua các nhà thầu Trung Quốc, hiệp hội này khẳng định.

Theo luật của Việt Nam, ở giai đoạn 1 sơ tuyển năng lực và kinh nghiệm, các nhà thầu đều vượt qua. Kể cả nhà thầu không có kinh nghiệm thì có thể thuê tư vấn có kinh nghiệm thầu, hoặc một số nhà thầu liên danh có đủ năng lực kinh nghiệm thầu.

Tuy nhiên, ở giai đoạn 2 là đấu giá thương mại thì không ai cạnh tranh nổi với nhà thầu Trung Quốc.

Nhìn từ góc độ “lợi nhuận”, Hiệp hội cơ khí cho rằng, khi các đối tác nước ngoài như Trung Quốc thực hiện, thì 100% công việc tại dự án là “nhập khẩu”, từ lao động phổ thông như nấu ăn, vệ sinh, bảo vệ, cho đến kỹ sư, công nhân, lắp máy… và vật tư. Vô hình chung, chúng ta đã tạo công ăn việc làm và GDP cho nước bạn và làm gia tăng nhập siêu.

Còn nhìn từ góc độ đánh giá chất lượng, ông Tạ Văn Hường, Vụ trưởng Vụ năng lượng, Bộ Công Thương khẳng định: “Ước 90% các nhà máy nhiệt điện than trong Qui hoạch 6 đều do Trung Quốc làm”.

Khi mở thầu các dự án điện, giá thầu của các nhà đầu tư Trung Quốc quá hấp dẫn. Nếu 1 nước G7 bỏ thầu với suất đầu tư là hơn 2000 USD/kWh thì ở dự án của Trung Quốc, chỉ khoảng 1000 USD/kWh.”

Và khi đó, với một mức giá rẻ như vậy, cộng với cam kết về năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu, thì không có lý do gì mà Việt Nam “từ chối” hồ sơ của họ, nhất là khi chúng ta luôn thiếu vốn làm điện”, ông Hường chia sẻ.

Trúng thầu rất hoành tráng và “ồ ạt” có mặt ở khắp đại công trường Việt Nam. Dường như, không một công trình trọng điểm kinh tế nào của Việt Nam mà lại “vắng bóng” đối tác Trung Quốc.

Song theo rà soát của Bộ Công Thương, tình trạng nhà thầu Trung Quốc làm chậm tiến độ các dự án trên là phổ biến, trong khi chất lượng thiết bị, công nghệ xét cho cùng, vẫn rất cách biệt so với các nước G7./.

Trung Quốc lại rất khiêm tốn trong vai trò là nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tính đến 20/7/2010, Trung Quốc đã đầu tư vào Việt Nam 733 dự án, với tổng vốn đăng ký là 3,17 tỷ USD trong đó, vốn điều lệ là 1,4 tỷ USD. So với hơn 188 tỷ USD vốn FDI đổ vào Việt Nam (còn hiệu lực), FDI của Trung Quốc chỉ chiếm có 1,5% và xếp thứ 14 trong số 91 quốc gia.

Trong 7 tháng đầu năm 2010, vốn FDI của Trung Quốc vào Việt Nam khoảng 307 triệu USD, đứng thứ 7 trong số 41 quốc gia.

Cập nhật lúc: 7/31/2010 5:30:59 PM (GMT+7)

Phạm Huyền

(http://vnr500.vietnamnet.vn/content.aspx?id=872)

Nguyên Thống đốc Lê Đức Thúy nói về dự trữ ngoại hối của Việt Nam

July 5th, 2010 No comments
picture

Ông Lê Đức Thúy.

ANH QUÂN
18:15 (GMT+7) – Thứ Bảy, 3/7/2010

“Khuyến cáo của các tổ chức nước ngoài lẫn chủ trương của Chính phủ là phải tăng dần dự trữ ngoại hối trở lại”, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và nay là Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính tiền tệ Quốc gia Lê Đức Thúy trả lời báo giới bên lề hội thảo về quản lý và giám sát tài chính công, diễn ra ngày 2/7.

Ông Thúy nói:

- Cán cân thanh toán tổng thể của chúng ta trong quý 1/2010 vẫn còn thâm hụt khá. Theo báo cáo chính thức, cán cân thanh toán quý 1 thâm hụt khoảng 3,7 tỷ USD. Đương nhiên là còn một số sai số trong quá trình tính toán, nhưng ít nhất con số nói rằng đấy là vấn đề mà Chính phủ cần quan tâm.

Tôi cũng biết theo dự báo của Ngân hàng Nhà nước, cán cân thanh toán quý 2 thăng bằng, có thể thặng dư dựa trên nguồn vốn kiều hối, nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài… đang tăng lên. Việc giải ngân những nguồn vốn ấy sẽ làm cho cán cân vốn thặng dư và cán cân thanh toán tổng thể có thể thăng bằng hoặc thâm hụt không lớn. Nếu được như thế là điều đáng mừng.

Theo ông, nguyên nhân của việc này do tác động của những yếu tố nào?

Chính phủ đang rất lưu ý về tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu của chúng ta, hiện vẫn cao hơn mục tiêu định ra là không quá 20% xuất khẩu. Nếu tính cả vàng và xuất vàng thì tỷ lệ nhập siêu là 20,9%, nếu không tính vàng vào xuất khẩu thì tỷ lệ này cao hơn.

Điều đó nói lên rằng, nhập siêu là một trong những chỉ số kinh tế vĩ mô cần phải quan tâm vì nó sẽ ảnh hưởng đến cán cân thanh toán. Tôi nghĩ là còn phải phấn đấu quyết liệt để đảm bảo nhập siêu không quá mục tiêu Chính phủ đề ra.

Còn nói không nhập siêu nữa lại là hơi ảo tưởng, bởi muốn có được sự cân bằng ấy phải đòi hỏi có thời gian, nhất là khi Việt Nam đang phải thu hút rất nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đi kèm với nó là việc nhập khẩu vật tư.

Điều đáng nói là không nhập những mặt hàng vật tư không cần thiết, tiêu dùng xa xỉ mà tốn ngoại tệ một cách không có ý nghĩa gì.

Vấn đề là cách điều hành

Dự trữ ngoại hối đã quay trở lại mức khoảng 9 tuần nhập khẩu. Quan điểm của ông về thông tin này?

Dự trữ ngoại hối quay lại hay không thì tôi không thể nói. Nhưng cái mà chúng ta có thể nói là dự trữ ngoại hối trong thời gian vừa qua đã giảm mạnh so với thời gian cao nhất mà chúng ta đạt được là trên 12 tuần nhập khẩu. Đó là điểm yếu dẫn đến chỗ không chỉ lòng tin ở trong nước mà cả uy tín với vay nợ nước ngoài giảm.

Khuyến cáo của các tổ chức nước ngoài lẫn chủ trương của Chính phủ là phải tăng dần dự trữ ngoại hối trở lại. Thủ tướng có nói ở hội nghị CG giữa kỳ vừa qua là dự trữ hiện nay được khoảng 9 tuần nhập khẩu và đến cuối năm sẽ cố gắng đến 12 tuần nhập khẩu.

Người đứng đầu Chính phủ nói như thế thì không có gì phải bình luận thêm nữa. Tức là đã thấy sự cần thiết không nên để giảm như vậy, phải tăng lên và tăng ít nhất trở lại cái ngưỡng an toàn.

Ông đã từng điều hành quản lý tiền  tệ trong thời kỳ dự trữ ngoại hối chỉ có 9 tuần nhập khẩu. Vậy theo ông, tình trạng ngoại tệ ấy ảnh hưởng như thế nào đến điều hành chính sách tiền tệ?

Đây là câu hỏi hay. Đã từng có thời kỳ chúng ta không dám tính tuần nhập khẩu vì dự trữ ngoại hối quá mỏng. Khi tôi làm phó thống đốc phụ trách mảng tỷ giá, lãi suất và phải ứng phó với tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực với Việt Nam, thì chúng ta chỉ có mấy trăm triệu USD thôi. Cho nên chúng ta không dám nói đến bằng mấy tuần nhập khẩu.

Thế còn sau đó, đến khoảng năm 1998 kết thúc thời kỳ khủng hoảng khu vực, chúng ta không mất đi một đồng dự trữ nào mà đã tăng lên được đến hơn 2 tỷ USD. Đầu năm 2008, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố chúng ta có dự trữ ngoại hối là 23 tỷ USD.

23 tỷ USD tuy nhiều, nhưng vẫn là ít với một quốc gia có đến 80 triệu dân và với quy mô xuất nhập khẩu hơn cả GDP. Thế nhưng ảo tưởng rằng sẽ tăng nhanh được dự trữ sẽ không có. Chúng ta phải từng bước thôi, nhất là trong khi chúng ta còn nhập siêu.

Vấn đề là nếu điều hành một cách vững vàng, với những quyết sách đủ liều lượng, kịp thời, đúng lúc thì người ta vẫn tin vào đồng tiền của anh mà không hoảng hốt, thậm chí khi anh chỉ có 1 hay 2 tỷ USD.

Còn khi anh có hai hay ba chục tỷ USD mà điều hành không tốt, không giữ minh bạch, nhất quán, vững vàng ứng phó với các biến động thị trường thì dự trữ nhiều hơn mà người ta vẫn không tin và có những bất ổn xã hội. Đấy là chuyện không chỉ dựa vào dự trữ để có thể nói về lòng tin chắc chắn với đồng tiền.

Xin ông nói rõ lại, với 9 tuần nhập khẩu, dự trữ ngoại hối có gây khó khăn gì cho điều hành chính sách không?

Vào thời điểm tôi rời khỏi Ngân hàng Nhà nước thì nó đã lên đến 12 tuần rồi. Trước đó, khó khăn đương nhiên là ở chỗ nếu có biến động tỷ giá sẽ không thể dựa vào nguồn dự trữ để can thiệp giữ ổn định lại.

Chẳng hạn như thời kỳ khủng hoảng tiền tệ khu vực, Ngân hàng Nhà nước đã trình và phải được phép của Bộ Chính trị mới được điều chỉnh tỷ giá và phải đến 7 lần điều chỉnh để đưa tỷ giá từ khoảng 10.500 đồng/USD vào trước khủng hoảng lên xấp xỉ 15.000 đồng/USD khi kết thúc khủng hoảng.

Suốt thời kỳ ấy, điều chỉnh tỷ giá là con đường duy nhất để giữ cân bằng thị trường trước những kỳ vọng phá giá khi mà anh không có dự trữ để can thiệp.

Cũng không thể làm việc như một số nước thả nổi hoàn toàn, bởi sẽ gây nên sự hoảng loạn, cho nên chúng ta đi từng bậc thang. Thành công hay không thành công, việc chúng ta vượt khỏi khủng hoảng khu vực và rồi sau đó tăng được sức mạnh chung của nền kinh tế thì cái đó cũng có thể đánh giá.

Những nguyên tắc thị trường phải được tôn trọng

Với trạng thái ngoại tệ hiện nay, có tin đồn đoán rằng VND sẽ tiếp tục mất giá. Quan điểm của ông?

Tôi nghĩ rằng nếu nói theo kiểu suy luận thị trường thì cũng rất khó để trả lời. Mỗi người có một hành vi ứng xử, mỗi một doanh nghiệp cũng có một cách ứng xử khác nhau.

Đôi khi, nó không như mong muốn của cơ quan quản lý nhà nước cũng có thể vì sự khác biệt thông tin, cũng có thể khác biệt ở chỗ dự đoán chiều hướng tình hình cho nên cũng phải làm quen với những xao động của thị trường. Sở dĩ nó là thị trường và nó đẹp là vì không phải lúc nào cũng bình lặng.

Quay trở lại chuyện ngoại hối, tôi nghĩ có thể có những đồn doán, dự báo và người ta hành xử chỉ biết trên thực tế tỷ giá trên thị trường chính thức cũng như không chính thức vừa qua có nhích lên.

Tôi cũng coi như đây là thứ sóng nhẹ và theo tôi, chả có việc gì phải lo ngại cả. Bởi vì, chính các anh cũng thấy là có sóng đi chăng nữa, có lo ngại đi chăng nữa thì tỷ giá hiện nay vẫn chưa vượt tỷ giá trần quy định.

Còn trước đó, có lúc ngay trong thị trường chính thức tỷ giá mua bán cũng đã cách xa trần quy định rồi chứ chưa nói là tỷ giá trên thị trường tự do. Chỉ cần nhìn điều đó cũng thấy sóng này là sóng của cơn gió nhẹ chỉ đang làm cho biển đẹp hơn thôi.

Hai câu trả lời vừa rồi của ông có phải hàm ý chính sách tỷ giá nên thị trường hơn không?

Không phải bây giờ mới hàm ý. Tôi nói rằng tỷ giá, lãi suất mà chúng ta chuyển đổi theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì những nguyên tắc thị trường phải được tôn trọng, trong đó đặc biệt là tỷ giá và lãi suất là những cái rất quan trọng đối với toàn bộ hoạt động đời sống kinh tế, phải theo thị trường.

Tuy nhiên, theo thị trường không phải là thả nổi hoàn toàn cho thị trường. Người quản lý nhà nước phải tính đến những chiều hướng vận động của thị trường, tôn trọng các nguyên tắc của thị trường để can thiệp đúng mức, đúng chỗ, không phải là làm thay thị trường mà để hướng vận động của sự vật theo chiều hướng thuận lợi nhất.

Tức là ông ủng hộ quan điểm Ngân hàng Nhà nước phải được tự chủ hơn?

Tôi không nói tự chủ hay không. Nhưng ngay từ trước đây, tôi đã theo nguyên tắc càng ngày càng phải thị trường hơn.

Còn nếu bây giờ, Ngân hàng Nhà nước được tự chủ hơn thì có lẽ họ sẽ thuận lợi hơn trong việc tăng cường tính thị trường trong điều hành.

(Theo vneconomy.vn)

Bản chất cuộc chiến tỷ giá Mỹ – Trung

May 9th, 2010 No comments

Trong chuyến công du sắp tới tại Indonesia, Tổng thống Obama sẽ đẩy mạnh việc xây dựng một khu vực tự do mậu dịch khu vực Thái Bình Dương để cạnh tranh, ảnh hưởng với Hiệp định mậu dịch tự do giữa Trung Quốc và ASEAN…

Dù áp lực tăng giá đồng NDT ngày càng lớn, nhưng Bắc Kinh vẫn cân nhắc trong việc điều chỉnh tỷ giá đồng nội tệ. Không chỉ liên quan tới yếu tố kinh tế, đồng NDT được định hướng sử dụng như một vũ khí trên nhiều lĩnh vực.

Ngày càng nhiều sức ép

Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XXI, cùng với sự tăng trưởng thần kỳ của kinh tế Trung Quốc, đồng NDT luôn chịu sức ép phải tăng giá từ Mỹ và phương Tây. Để dung hòa lợi ích, ngày 21/7/2005, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ (NDT) từ mức 8,2765 USD/NDT (1 USD ăn 8,2765 NDT) lên mức 8,11 USD/NDT.

Đồng thời, Trung Quốc cũng tuyên bố chấm dứt gần 1 thập kỷ cố định tỷ giá đồng NDT vào đồng đôla Mỹ trong một khung dao động rất hẹp là 8,26-8,28 USD/NDT (kể từ năm 1996) để chuyển sang cơ chế tỷ giá mới linh hoạt hơn, quản lý tỷ giá đồng tiền dựa trên sự biến động của một rổ các đồng tiền của các nước đối tác thương mại chính của Trung Quốc.

Từ đó đến nay, đồng tiền này vẫn chịu sức ép tăng giá và sức ép đó gia tăng tùy vào từng thời điểm cụ thể. Giai đoạn 2008 – 2009, khi thế giới phải đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính, sức ép này tạm thời lắng dịu. Tuy nhiên, khi kinh tế thế giới đang có dấu hiệu hồi phục và tăng trưởng trở lại thì cuộc chiến tỷ giá giữa Mỹ và Trung Quốc đang có dấu hiệu căng thẳng trở lại.

Ngày 17/3/2010, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) đã lên tiếng ủng hộ Mỹ trong việc kêu gọi Trung Quốc xem xét nâng giá trị NDT. Giám đốc điều hành IMF Dominique Strauss-Kahn nói trước Nghị viện châu Âu tại Brussels: “Trong vài trường hợp, không thể tránh khỏi việc thay đổi tỷ giá. NDT của Trung Quốc hiện ở mức quá thấp vì thế cần định giá lại để giúp cân bằng cán cân thanh toán”. Trước đó, Ngân hàng Thế giới (WB) đã thúc giục Trung Quốc nâng giá trị NDT để giảm lạm phát và giảm sức nóng của nền kinh tế mà tổ chức này dự báo năm nay sẽ đạt mức 9,5%.

Trong phiên điều trần tại Hạ viện ngày 24/3/2010 vừa qua, nhiều nhà lập pháp và chuyên gia Mỹ đã yêu cầu chính quyền Tổng thống Barack Obama tiến hành các biện pháp đa phương để chống lại chính sách tiền tệ bị cho là không linh hoạt của Trung Quốc. Các nghị sĩ Mỹ cho rằng Washington cần đưa vấn đề tỉ giá đồng nhân dân tệ ra các diễn đàn quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), hay nhóm G-20 để tận dụng sự hỗ trợ của các nước châu Âu và châu Á cũng quan ngại về đồng NDT.

Tại sao Mỹ lại gia tăng sức ép với Trung Quốc?

Thứ nhất, Mỹ cho rằng Trung Quốc luôn cố tình định giá đồng NDT thấp hơn so với giá trị thực của nó để hưởng lợi trong xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ. Quốc hội Mỹ dưới thời Tổng thống Bush cũng đã từng yêu cầu Bắc Kinh tăng tỉ giá đồng NDT. Từ tháng 7/2005 đến đầu năm 2008, Trung Quốc cũng đã có điều chỉnh tỉ giá đồng tiền của mình và tổng cộng lên được 20% so với đồng USD.

Nhưng đồng USD lại mất giá và cuộc suy thoái kinh tế thế giới năm 2008 đã khiến Bắc Kinh neo đồng NDT vào đồng tiền Mỹ với tỉ giá thấp để dùng xuất khẩu làm động lực tăng trưởng. Và nay vấn đề này lại gây khó khăn cho một nước Mỹ đang cần đẩy mạnh xuất khẩu và hạn chế nhập siêu. Mỹ hiện bị nhập siêu hơn 800 tỉ USD và nặng nhất với Trung Quốc. Tỉ lệ thất nghiệp ở Mỹ đang ở mức rất cao: 9,7%.

Trong thông điệp Liên bang đầu năm 2010, Tổng thống Obama thông báo kế hoạch tăng xuất khẩu gấp đôi từ nay cho đến 2015, nhằm tạo thêm 2 triệu việc làm cho người dân Mỹ. Như vậy từ nay, xuất khẩu sẽ trở thành một mục tiêu nữa của chính trị và ngoại giao Mỹ.

Thứ hai, Mỹ cần gia tăng sức ép để các chính khách Mỹ tranh thủ lá phiếu cử tri vào tháng 11 tới. 2010 là năm nước Mỹ có kỳ bầu cử nên các nghị sĩ phải chứng tỏ rằng họ quan tâm tới việc làm của người dân và quyền lợi doanh nghiệp.

Cho nên, cả hành pháp và lập pháp Mỹ đều muốn nâng sức cạnh tranh của Mỹ và ngăn ngừa khả năng cạnh tranh của Trung Quốc bằng hối suất thấp. Điều này càng được thúc đẩy bởi Đảng Dân chủ luôn có chủ trương bảo hộ mậu dịch do sức ép của các nghiệp đoàn đồng thời trong lúc đang bị thất thế, họ cũng cần phải tranh thủ từng lá phiếu.

Thứ ba, Mỹ muốn gây áp lực mạnh hơn đối với đồng NDT kết hợp cùng một loạt các chính sách ngoại giao khác để tăng cường ảnh hưởng Đông Nam Á, kiềm chế Trung Quốc. Trong chuyến công du sắp tới tại Indonesia, Tổng thống Obama sẽ đẩy mạnh việc xây dựng một khu vực tự do mậu dịch khu vực Thái Bình Dương để cạnh tranh, ảnh hưởng với Hiệp định mậu dịch tự do giữa Trung Quốc và ASEAN.

Tận dụng thời cơ, Mỹ nêu lý do xuất khẩu để mở ra chiến lược bao vây Trung Quốc với hàng loạt quyết định gần đây như Mỹ tranh thủ các nước Đông Nam Á và 4 nước trong lưu vực sông Mekong hay bán vũ khí cho Đài Loan… thì điều này sẽ gây bất lợi cho Trung Quốc.

Phản ứng của Trung Quốc

Kết thúc phiên họp Quốc hội kỳ 3 khóa 11 vừa qua, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo khẳng định “ý chí sắt thép” của Trung Quốc về các vấn đề Tây Tạng, Đài Loan và cho rằng chính Mỹ mới phải bày tỏ thiện chí thay vì gây mâu thuẫn về mậu dịch và tỉ giá đồng NDT. Thủ tướng Ôn Gia Bảo cho rằng cuộc khủng hoảng kinh tế Mỹ vừa qua là do chính họ gây ra vì thiếu khả năng quản lý nền kinh tế.

Việc kinh tế thế giới và Mỹ thoát khỏi báo động đỏ là nhờ vào Trung Quốc, do mức tăng trưởng cao của nước này trong năm 2009. Thâm hụt thương mại của Mỹ hiện nay với Trung Quốc bắt nguồn từ sự toàn cầu hóa: 60% lượng hàng hóa Trung Quốc xuất khẩu vào Mỹ là của các công ty nước ngoài có cơ xưởng tại Trung Quốc… Thủ tướng Trung Quốc kết luận: sẽ không có lý do nào để đánh giá lại đồng NDT. Và theo ông việc chỉ tập trung vào đồng NDT sẽ không giúp giải quyết các tranh chấp thương mại.

Tiếp đó, ngày 24/3, tại một hoạt động diễn ra ở thủ đô Washington (Mỹ) do giới công thương Mỹ tổ chức, Thứ trưởng Bộ Thương mại Trung Quốc Chung Sơn tuyên bố: “Tăng giá đồng NDT không phải là phương thuốc hữu hiệu để có thể giải quyết tình trạng mất cân bằng trong quan hệ thương mại Trung-Mỹ”.

Vai trò quốc tế của đồng NDT liên tục nâng cao có một hậu quả nghịch lý, nó đẩy đồng NDT lên cao, và đồng USD do ít người mua đã bị hạ xuống. Đồng NDT càng tăng giá, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc càng phải mua thêm công trái phiếu của Mỹ để tránh phải định giá lại đồng tiền quốc gia. Như vậy, theo đúng lý thuyết, Bắc Kinh phải chấp nhận tăng giá đồng NDT và cuối cùng chấp nhận đồng tiền này có khả năng chuyển đổi.

Trong khi các lý do kinh tế cho thấy sự điều chỉnh đồng tiền nước này ngày gần hơn thì các lý do chính trị lại không cho phép, đặc biệt trong quan hệ với Mỹ. Những bất đồng mới nảy sinh gần đây lại làm bang giao hai nước tiếp tục nóng lên. Với vị thế hiện có, lãnh đạo Bắc Kinh không muốn Mỹ gây ra sức ép khiến Trung Quốc phải nhượng bộ, đặc biệt trong vấn đề nhạy cảm liên quan tới Đài Loan và Tây Tạng.

Do đó, nếu có sự thay đổi đồng NDT thì có lẽ không phải một sớm một chiều. Hay nói cách khác, Bắc Kinh sẽ tìm cách đi ngược lại những gì chính phủ Mỹ yêu cầu, ít nhất cho đến khi những căng thẳng ngoài vấn đề kinh tế được giải quyết.

Theo một số nhà phân tích, vào quý II tới đây, Trung Quốc có thể định lại dần tỷ giá đồng NDT. Điều này tác động tiêu cực trên sức cạnh tranh của Trung Quốc nhưng bù lại có thể giúp Bắc Kinh tạo thêm ảnh hưởng trên trường quốc tế. Tăng mạnh và nhanh tỷ giá đồng nội tệ sẽ làm giảm khối dự trữ ngoại tệ bằng USD của Trung Quốc.

Cuộc chiến sẽ đi về đâu?

Sức ép nội tại của cả Trung Quốc và Mỹ đã đẩy hai cường quốc thế giới tiến tới bờ vực của một cuộc chiến thương mại quy mô lớn khó tránh khỏi trong thời gian tới. Trong cuộc chiến ấy, Mỹ đã bắt đầu nhận được sự ủng hộ của các đồng minh châu Âu cũng như các tổ chức tài chính hàng đầu của thế giới như Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB). Cuộc chiến này rồi sẽ đi về đâu?

Theo các nhà bình luận, nếu Trung Quốc không tăng giá đồng NDT, Mỹ sẽ đơn phương áp các biện pháp trừng phạt với hàng nhập khẩu của Trung Quốc nhưng Bắc Kinh cũng sẽ trả đũa như vụ lốp xe hơi hồi năm ngoái và như vậy cả hai bên đều bị thiệt. Còn nếu Mỹ nhờ IMF, WB hay WTO can thiệp thì xem ra giải pháp này rất khó khả thi vì cơ chế của các tổ chức này.

Mặt khác, khi lấy lòng các nghiệp đoàn hòng nhận được sự ủng hộ đối với các chính sách trong nước, ông Obama lại làm mất lòng Bắc Kinh trong khi Mỹ đang cần Trung Quốc giúp đỡ về những vấn đề như thay đổi khí hậu, thương thuyết về vũ khí hạt nhân với CHDCND Triều Tiên và Iran và vấn đề kinh tế toàn cầu.

Trong khi đó, điều mà nhiều nhà kinh tế Mỹ băn khoăn nhất hiện nay chính là Trung Quốc đang là chủ nợ lớn nhất của Mỹ. Với lợi thế nắm giữ hơn 1.000 tỷ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, Trung Quốc có lợi thế trong các cuộc đàm phán về kinh tế với Mỹ. Nhiều nhà phân tích của Mỹ còn lo ngại khả năng từ chỗ lệ thuộc vào chủ nợ Trung Quốc, Mỹ sẽ lệ thuộc vào nhiều vấn đề khác, kể cả an ninh.

Trong vụ Mỹ bán vũ khí cho lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc) vừa qua, nhiều tiếng nói từ Trung Quốc kêu gọi trả đũa bằng cách bán phá giá trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ do Trung Quốc nắm giữ. Tuy nhiên, Trung Quốc cũng sẽ phải tính toán nếu bán phá giá cổ phiếu của Mỹ như vậy, số tiền thu về của họ cũng sẽ bị giảm mạnh, điều mà bất cứ chủ nợ nào cũng không muốn.

Ở khía cạnh nào đó, việc cung cấp tài chính của Trung Quốc cho Mỹ thông qua việc mua trái phiếu chính phủ đã tạo thuận lợi cho chính sách phục hồi kinh tế và giải quyết các vấn đề mà Mỹ đang phải đối mặt. Tuy nhiên, chính việc cung cấp tài chính này cũng làm ảnh hưởng đến sản xuất hàng hóa và dịch vụ nội địa và về lâu dài sẽ làm suy yếu vai trò toàn cầu của Mỹ.

Như vậy, khả năng của Chính phủ Mỹ đưa ra các quyết định liên quan đến thương mại và tài chính quốc tế thời gian tới sẽ bị hạn chế bởi sự phụ thuộc về tài chính từ Trung Quốc.

Nhưng vấn đề mấu chốt không phải là do Mỹ thiếu sức mạnh để đối phó, mà là điều ràng buộc giữa hai nền kinh tế này là quá lớn: Mỹ cần tiền của Trung Quốc còn Trung Quốc lại cần thị trường của Mỹ. Cuộc chiến sắp tới sẽ phức tạp nhưng cuối cùng nó cũng “bất phân thắng bại” vì cả hai bên đều cần duy trì quan hệ đôi bên cùng có lợi.

(Theo Bee.net.vn – Báo khoa học đời sống Online)

Tại sao Trung Quốc không muốn nâng giá đồng nhân dân tệ

May 9th, 2010 No comments

Việc Trung Quốc không muốn thả nổi tỷ giá đồng nhân dân tệ sẽ không chỉ ảnh hưởng đến Mỹ, đó là nguồn gốc của nhiều sự bất ổn và mất cân bằng trên thế giới.

Sự ngại ngần của Trung Quốc trong việc để biến động trên thị trường quyết định tỷ giá của đồng nhân dân tệ là một điều mà cả Mỹ và Trung Quốc đều không muốn nó vượt khả năng kiểm soát.

Trung Quốc cho biết nước này điều chỉnh tỷ giá đồng nhân dân tệ với một số loại tiền khác thuộc giỏ tiền tệ thế nhưng nếu trên thực tế có một giỏ, đồng USD sẽ còn lâu mới là đối trọng lớn nhất.

Lịch sử của việc “thả nổi có điều chỉnh” đồng nhân dân tệ của Trung Quốc được chia thành 2 khoảng thời gian chính: từ tháng 7/2005 đến tháng 7/2008 khi đồng nhân dân tệ tăng giá 21% – đồng nhân dân tệ được neo giá từ từ so với đồng USD, từ tháng 7/2008 đến nay khi đồng nhân dân tệ được neo trở lại ở tỷ giá 6,83 nhân dân tệ/USD.

Tháng 7/2005, Trung Quốc ngưng việc neo đồng nhân dân tệ với đồng USD đã kéo dài suốt 1 thập kỷ trước đó, Trung Quốc khăng khăng nước này đang hoàn thiện cơ chế tỷ giá thế nhưng sự thiếu linh hoạt trong suốt 1 năm qua khiến thế giới không khỏi tức giận.

Giới chỉ trích người Mỹ, đặc biệt là những nhóm vận động hành lang lớn, kêu ca rằng Trung Quốc đã ngăn đồng nhân dân tệ tăng giá bất chấp việc vị thế của kinh tế nước này trong kinh tế toàn cầu ngày một đi lên.

Trung Quốc cho biết tỷ giá hối đoái ổn định là yếu tố cần thiết hỗ trợ cho xuất khẩu đang ngày một đi xuống và giúp mang đến sự ổn định cho kinh tế toàn cầu.

Tại sao Mỹ phản đối chính sách của Trung Quốc?

Chính quyền Tổng thống Obama lo lắng khi chính sách của Trung Quốc không đi theo sự điều chỉnh bình thường của thị trường – đó là đồng tiền của những nền kinh tế đang nổi ngày một tăng giá và vì thế hàng hóa của nước đó trở nên đắt đỏ hơn đối với người nước ngoài.

Hậu quả, Trung Quốc thu được rất nhiều tiền từ thặng dư thương mại cũng như dự trữ ngoại tệ ngày càng phình to, tiền đổ vào Trung Quốc bởi nước này bán được rất nhiều hàng trên khắp thế giới.

Đây có phải chỉ là vấn đề của riêng nước Mỹ?

Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đã hối thúc Trung Quốc chấp thuận sự linh hoạt tỷ giá như một yếu tố hỗ trợ cân bằng tăng trưởng kinh tế toàn cầu và giúp chính Trung Quốc có sự tự chủ cao hơn trong việc đưa ra chính sách tiền tệ.

Nhiều nước châu Âu cũng gây sức ép buộc Trung Quốc để đồng nhân dân tệ tăng giá, nhiều nước khác khi chứng kiến các gian hàng của họ ngập tràn hàng Trung Quốc cũng đã “than trời”.

Thống đốc Ngân hàng Trung ương Canada gần đây đưa ra nhận xét: “Họ đang mạo hiểm với chính sách này. Đó chính là nguồn gây ra một số vấn đề và sự mất cân bằng của kinh tế toàn cầu.”

Điều gì sẽ xảy ra nếu đồng nhân dân tệ tăng giá?

Trên lý thuyết, đồng nhân dân tệ tăng giá sẽ khiến hàng hóa của Trung Quốc bán ra trên khắp thế giới tăng giá. Nếu giá tăng đều đặn, hàng hóa của nước khác sẽ trở thành lựa chọn mới của khách hàng. Một số người Mỹ hy vọng công ty nội địa hiện nay đang cho biết họ không thể cạnh tranh sẽ quyết định họ có thể tăng được thị phần xuất khẩu và nhờ thế đẩy mạnh sản xuất, tuyển dụng. Nếu người tiêu dùng Trung Quốc có đồng nhân dân tệ mạnh, họ sẽ nhập khẩu nhiều hơn, thặng dư thương mại Trung Quốc có thể biến thành thâm hụt thương mại.

Trên thực tế, dù từ năm 2005 đến năm 2008, đồng nhân dân tệ tăng giá 21% so với đồng USD, những bên mua hàng của thế giới, thông thường là công ty nước ngoài như Wal-Mart yêu cầu chi phí hàng hóa thấp và bên cung hàng vẫn ở mức thấp nhờ năng suất lao động tăng.

Các chuyên gia thường coi thặng dư thương mại Trung Quốc có tính cấu trúc, đó là nói đến nguồn vốn giá rẻ và hoạt động đầu tư quá mức, sản xuất thừa và đẩy hàng đi xuất khẩu. Cải cách của Trung Quốc bao gồm xây dựng hệ thống an sinh xã hội tốt chứ không hẳn chỉ là để đồng nhân dân tệ tăng giá, những chính sách trên là cần thiết để kích thích nhu cầu nội địa và hạn chế thặng dư thương mại tăng quá cao.

Trung Quốc liệu có “xả” nợ Mỹ?

Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc lên mức 2,27 nghìn tỷ USD, dự trữ lớn nhất thế giới. Phần lớn chuyên gia cho rằng khoảng 2/3 dự trữ trên đầu tư vào tài sản được định giá bằng USD. Trung Quốc là nước nắm giữ Trái phiếu chính phủ Mỹ nhiều nhất, tính đến cuối tháng 6/2009, Trung Quốc nắm giữ ít nhất 776,4 tỷ USD nợ chính phủ Mỹ.

Các chuyên gia cho rằng việc nắm quá nhiều tài sản USD đã mang đến cho Trung Quốc một công cụ ngăn Mỹ có thể yêu cầu bất kỳ sự thay đổi nào liên quan đến chính sách tỷ giá đồng nhân dân tệ bằng việc đe dọa sẽ ngừng mua nợ và có thể bán đi số tài sản đang nắm giữ.

Trung Quốc thực tế chưa bao giờ làm điều đó dù đã nhiều năm nay tuyên bố sẽ đa dạng dự trữ ngoại tệ. Trung Quốc, về phía họ, thường lo lắng về những gánh nặng nợ ngày một phình to của chính phủ Mỹ, bởi đồng USD yếu khiến giá trị các khoản đầu tư vào tài sản Mỹ giảm.

Ngoại trừ khả năng về một cuộc chiến thương mại, Trung Quốc sẽ không bao giờ bán tháo số tài sản của họ bởi điều này sẽ khiến thị trường chấn động và chỉ khiến số tài sản họ đang nắm giữ tiếp tục mất giá trị.

Thâm hụt ngân sách ngày một phình to của Mỹ đồng nghĩa với họ cần nước ngoài mua nợ của họ nhiều hơn bao giờ hết thế nhưng ngược đời là quy mô phát hành đồng nghĩa với thị phần mua lượng nợ phát hành mới của Trung Quốc đang giảm dần. Hồi phục từ khủng hoảng, người Mỹ sẽ tiết kiệm hơn, đối tượng nội địa mua nợ Mỹ tăng lên, nước Mỹ ít chịu ảnh hưởng từ thay đổi của nhu cầu nước ngoài.

Nếu trái phiếu Bộ Tài chính Mỹ bị bán tháo, điều gì sẽ xảy ra?

Nếu đối tượng mua gom nhiều nợ Mỹ nhất – Trung Quốc bán số nợ đi hoặc tuyên bố không mua thêm, đồng USD sẽ chịu ảnh hưởng tức thì. Một trong những tuyên bố mạnh mẽ nhất của Mỹ về vị thế của đồng USD trong vai trò đồng tiền dự trữ của thế giới chính là nước này sở hữu thị trường vốn có tính thanh khoản cao nhất thế giới. Nay nếu đối tượng mua nợ Mỹ lớn nhất ngưng lại, tuyên bố này sẽ không còn giá trị, vị thế của USD vốn đã chịu nhiều chỉ trích thì nay sẽ lung lay hơn nữa.

Theo Reuters-CafeF

VN muốn vay một tỷ đôla qua trái phiếu quốc tế

April 5th, 2010 No comments

Cập nhật: 13:27 GMT – thứ sáu, 15 tháng 1, 2010

Việt Nam đang chuẩn bị chiến dịch vận động thị trường tài chính quốc tế nhằm vay một tỷ đôla để phát triển các dự án năng lượng, hãng tin Reuters cho hay.

Tin này cũng được hãng tin tài chính của Hoa Kỳ Bloomberg xác nhận trong khi đã có ý kiến nói rằng Việt Nam có thể sẽ phải trả lãi cao do tình hình kinh tế thế giới và của chính Việt Nam.

Reuters trích một nguồn tin được mô tả là “gần gũi với vụ việc” nói Thứ trưởng Trần Xuân Hà của Bộ Tài chính sẽ dẫn đầu một phái đoàn của Việt Nam đi gặp các nhà đầu tư bắt đầu bằng cuộc gặp ở Hồng Kông hôm 18/1.

Sau đó đoàn được cho biết sẽ tới London vào Thứ Ba, Boston vào Thứ Tư và New York vào Thứ Năm.

Theo Reuters, việc phát hành trái phiếu của Việt nam sẽ được tiến hành thông qua ba ngân hàng Citigroup, Barclays Capital và Deutsche Bank.

Bloomberg nói đây là lần Việt Nam phát hành trái phiếu kể từ tháng Mười năm 2005 khi Việt Nam vay 750 triệu đôla qua phát hành trái phiếu và cho Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam vay lại khoản tiền này.

Lần này Việt Nam muốn có vốn để phát triển ngành năng lượng.

Thiếu hụt đô la

Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành từ Hà Nội nói với BBC Việt Nam vẫn có cơ hội vay tiền qua phát hành trái phiếu nhưng lãi suất có thể sẽ cao hơn mức Việt Nam muốn.

Ông Thành nói lợi thế của Việt Nam là còn ‘mới’ trên thị trường trái phiếu quốc tế và chưa vay nợ nhiều tại thị trường này.

Theo ông Việt Nam phải tìm tới thị trường trái phiếu vì nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA cho phát triển hạ tầng sẽ cạn dần khi Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình.

Trong khi đó Bloomberg nói nhu cầu mua trái phiếu của các nước đang phát triển hiện không nhiều do năm ngoái nhóm các nước này đã huy động tới 10 tỷ đô la qua trái phiếu, tăng hơn gấp đôi so với năm 2008.

Bloomberg nhận định nguồn đôla thu được từ phát hành trái phiếu sẽ giúp Việt Nam tránh được tình trạng thiếu hụt đôla vốn đã làm cho tiền đồng mất giá hơn 5% trong năm 2009, năm mà dự trữ ngoại tệ của Việt Nam giảm xuống mức 16,5 tỷ đôla từ mức 23 tỷ hồi cuối năm 2008.

Cũng theo Bloomberg, hãng đánh giá mức độ khả tín Moody cho Việt Nam mức Ba3, mức mà Bloomberg nói thấp hơn mức khuyến cáo đầu tư tới ba bậc.

(Theo BBC Vietnamese)

Đồng VND mất giá sau một năm

January 4th, 2010 No comments

Hôm nay rảnh rỗi làm phép so sánh giá linh kiện vi tính bán lẻ của công ty Hợp Nhất (TPHCM) cuối năm 2008 và 2009, rồi rút ra kết luận rằng: VND mất giá so với USD gần 2000 đồng!

=> Tỉ giá tự do ngày 22/12/2009: 19500 VND = 1 USD

=> Tỉ giá tự do ngày 27/12/2008: 17538 VND = 1 USD

Đáng thương cho đồng VND, năm nào cũng mất giá. Điều này cho thấy kinh tế Việt Nam vẫn chưa thật sự phát triển và khởi sắc, nhập siêu năm nào cũng nhiều.

Categories: Kinh tế Tags: , , , , ,