Archive

Posts Tagged ‘quản lý’

Cán bộ và công chức: Bình đẳng trong tuyển dụng, sử dụng

September 27th, 2010 No comments

Cập nhật lúc 07:17, Thứ Hai, 29/09/2008 (GMT+7)

“Tôi mong muốn luật nêu được sự bình đẳng tương đối giữa cán bộ và công chức, trong cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm, quyền, trách nhiệm cũng như chế độ lương”, ĐBQH Nguyễn Ngọc Đào, Phó trưởng Khoa Đào tạo, bồi dưỡng công chức, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh góp ý cho dự án Luật Cán bộ, công chức vừa được UBTVQH thảo luận kín cuối tuần qua.

Đã qua thời thiếu cán bộ

Thưa ông, khi tuyển dụng theo quy định của dự thảo Luật Cán bộ, công chức, liệu có đảm bảo chất lượng tương đương cho cán bộ, công chức cùng một cấp không?

ĐBQH Nguyễn Ngọc Đào: Cán bộ hay công chức, cứ sai là xử lý theo pháp luật chứ không thể có ưu ái, ưu tiên. Ảnh: VA

Dự thảo lần này đã tách rõ hai khái niệm, nói rõ ai là cán bộ, ai là công chức. Cán bộ là những người phục vụ trong các cơ quan Đảng, đoàn thể, là những người được bầu: bí thư các cấp ủy Đảng cho đến Tổng Bí thư, Thủ tướng… Tất cả những người được bầu, bổ niệm phê chuẩn gọi là cán bộ. Còn những người làm quản lý Nhà nước trực tiếp, trong các đơn vị sự nghiệp công được gọi là công chức.

Đương nhiên khi nói đến cán bộ làm công tác Đảng, đoàn thể thì do bầu cử mà có chứ không thể tuyển được, có tuyển thì do anh hiệp thương giới thiệu tuyển, khâu đó cần làm và theo một cơ chế khác, nên bổ sung vào luật.

Tiêu chí lựa chọn đưa vào hiệp thương để bổ nhiệm từ xưa đến nay là mang tính xã hội, MTTQ đứng ra hiệp thương. Thí dụ phải là người tốt, trung thành với Tổ quốc, có uy tín với khu dân cư, chấp hành tốt pháp luật… chứ không nói đến năng lực. Khâu chuẩn bị lựa chọn để bầu, tuyển dụng, bổ nhiệm và phê chuẩn còn lỏng lẻo về tiêu chuẩn.

Thực ra vấn đề này đặt ra thì đúng nhưng giải quyết rất khó. Ai là người đứng ra đánh giá phẩm hạnh, chuyên môn? Chỉ có cơ quan nơi người đó công tác và lý lịch khoa học của người đó mới thể hiện trình độ chuyên môn. Như vậy trong tiêu chuẩn để bầu, dứt khoát phải có lý lịch khoa học.

Trong khi ta yêu cầu công chức phải có tri thức, phải có trình độ, có bằng đại học, bảng điểm, xem xét bằng cấp thì đối với cán bộ lại không có.

Đi tìm sự bình đẳng giữa cán bộ và công chức thì phải có tiêu chí. Ví dụ, bí thư đoàn quận chẳng hạn, phải có trình độ nhất định chứ không thể tốt nghiệp PTTH được, bí thư tỉnh ủy ít nhất phải có trình độ đại học. Đã qua rồi thời kỳ chúng ta thiếu cán bộ để bổ nhiệm hoặc bầu vào những chức vụ quan trọng. Bây giờ chúng ta đủ người, ngoài phẩm chất đạo đức, họ còn có trình độ. Tất nhiên có những thế hệ không có điều kiện làm việc này nhưng thế hệ tiếp theo phải làm được. Vì thế phải đưa vào luật ngay từ bây giờ.

Bình đẳng tương đối

Theo ông, những quy định trong tuyển dụng, đào tạo, sử dụng cán bộ, công chức như trong dự thảo Luật có đảm bảo được tính liên thông năng lực để luân chuyển cán bộ giữa các cơ quan nhà nước và Đảng, tổ chức chính trị – xã hội?

“Đã vi phạm, xâm hại lợi ích cộng đồng, quốc gia là bình đẳng trên phương diện truy cứu trách nhiệm chứ không thể có chuyện bên này thì kiểm điểm, khiển trách, luân chuyển nhưng bên kia thì cách chức. Bởi cán bộ hay công chức đều là chức vụ được giao trong bộ máy công quyền nói chung. Họ đều là công bộc của dân”.

Trong Pháp lệnh công chức 2003 cũng như trong dự luật lần này chưa tính đến việc xử lý tình huống một cán bộ trở thành công chức và ngược lại, một công chức chuyển sang làm cán bộ. Một người đang làm công tác Đảng nay chuyển sang công tác chính quyền thì phải xử lý thế nào về vị thế, chế độ lương? Hoặc có nhiều trường hợp đang ở doanh nghiệp chuyển sang công chức.

Tôi biết rất nhiều trường hợp như vậy, ở doanh nghiệp có trình độ đại học lương cao “ngất ngưởng”, sang làm công chức giữ nguyên. Trong khi, một công chức có trình độ tương đương, tuyển dụng vào cùng thời kỳ thì lương có khi phải 6 hoặc 9 năm sau mới theo kịp.

Chúng ta có cách nhìn nhận tương đối đơn giản quá làm sinh ra nhiều bất cập. Có những ông bí thư huyện ủy trình độ đại học, lương cao hơn trưởng phòng nông nghiệp của huyện ấy có trình độ tiến sĩ. Điều này rất cần bàn.

Quay lại với việc bình đẳng giữa cán bộ và công chức, theo ông khái niệm bình đẳng này cần được hiểu trên những phương diện gì?

Có ba mảng phải tương đối bình đẳng. Thứ nhất là khâu tuyển dụng và bổ nhiệm. Làm sao phải tương đối bình đẳng về tiêu chí đánh giá đạo đức, phẩm hạnh và năng lực làm việc. Ví dụ tiêu chí ở cương vị này phải có trình độ này, cương vị kia phải có trình độ kia. Phải bình đẳng hai bên.

Thứ hai là quyền và trách nhiệm cũng phải bình đẳng. Lấy ví dụ một chủ tịch tỉnh và một bí thư tỉnh ủy. Quyền lực như thế nào. Bí thư thì lãnh đạo về Đảng chỉ chịu trách nhiệm trước Đảng, còn trách nhiệm trước pháp luật thì chưa rõ, nhưng ông chủ tịch phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những gì mình làm và trước Đảng với trách nhiệm là Đảng ủy viên hoặc Thường vụ.

Vì vậy, nên xử lý trách nhiệm cũng cần bình đẳng. Cứ có vi phạm ở cấp nào là phải xử lý theo pháp luật tương ứng quyền và trách nhiệm chứ không thể có ưu ái, ưu tiên. Đã vi phạm, xâm hại lợi ích cộng đồng, quốc gia là bình đẳng trên phương diện truy cứu trách nhiệm chứ không thể có chuyện bên này thì kiểm điểm, khiển trách, luân chuyển nhưng bên kia thì cách chức. Bởi cán bộ hay công chức đều là chức vụ được giao trong bộ máy công quyền nói chung. Họ đều là công bộc của dân.

Và thứ ba là chế độ. Nếu bên cơ quan hành chính nhà nước là ngạch công chức thì bên cơ quan Đảng, tổ chức chính trị – xã hội là ngạch gì, cũng phải nêu rõ. Không thể có ông bí thư huyện ủy trình độ thấp hơn mà lương lại cao hơn ông tiến sỹ trưởng phòng của huyện.

Chế độ nghỉ hưu cũng vậy. Hai bên đều phải như nhau, chỉ trừ một số trường hợp đặc biệt, như ủy viên Trung ương Đảng, Ban Bí thư, ủy viên Bộ Chính trị. Nhưng tôi muốn trong dự luật thay chữ “trong những trường hợp đặc biệt” bằng “trong những trường hợp cần thiết”. Cần là cần cho Đảng, cho dân, chứ ở đây không nên nói “đặc biệt”.

Vân Anh

(Source: http://www.vietnamnet.vn/chinhtri/2008/09/806001/)

Quản lý nợ công

May 13th, 2010 No comments

11:45 (GMT+7) – Thứ Năm, 13/5/2010

Mỗi khi nói đến nợ công của Việt Nam, chúng ta thường thấy một nhận xét đi kèm là tình hình vẫn còn nằm trong tầm kiểm soát, tổng nợ đang ở mức an toàn, không có gì đáng lo…

Chuyên đề: Quản lý nợ công

Tuy nhiên, vấn đề là con số nợ công dựa vào để nhận xét như thế là con số nào?

Thế nào là nợ công?

Có lẽ đầu tiên là phải quay lại với những định nghĩa chính thức. Theo Luật Quản lý nợ công mới được ban hành và có hiệu lực từ đầu năm nay, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Như vậy, các khoản vay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ (trong cũng như ngoài nước), trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoài được chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công.

Trước nay mọi người thường chỉ nghĩ đến nợ chính phủ khi nói đến tổng nợ công. Khi Chính phủ phát hành 1 tỉ Đô la trái phiếu ở nước ngoài, ai cũng biết nó được tính vào tổng nợ công nhưng khi đọc tin một doanh nghiệp thu xếp ký kết một khoản vay 2 tỉ Đô la với một ngân hàng nước ngoài nào đó, có sự bảo lãnh của Chính phủ, có thể có người vẫn nghĩ đó là nợ doanh nghiệp, đâu phải là nợ công!

Ngoài ra cần chú ý thêm khái niệm “nợ nước ngoài của quốc gia”, là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự trả. Vốn vay từ Ngân hàng Phát triển châu Á hay Ngân hàng Thế giới đương nhiên là nợ nước ngoài rồi nhưng một doanh nghiệp vay từ đối tác nước ngoài vài trăm triệu Đô la, chẳng hạn, dù có hay không có bảo lãnh của chính phủ, thì khoản tiền đó vẫn phải tính vào tổng nợ nước ngoài của quốc gia.

Nợ công là bao nhiêu?

Tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào cuối tuần trước, báo cáo cho thấy nợ chính phủ đang tăng cao: bằng 33,8% GDP năm 2007; 36,2% GDP năm 2008, 41,9% GDP năm 2009 và dự báo lên đến 44,6% vào cuối năm 2010. Dựa vào các con số này, Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội cảnh báo mức nợ chính phủ đã tăng sát mức trần cho phép.

Nhưng ở đây có hai điểm cần làm rõ. Mức nợ này, nếu đúng theo báo cáo, chỉ mới là nợ chính phủ, chưa phải là tổng mức nợ công vì chưa tính đến các khoản nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Hơn nữa, mức trần để xem nợ công là an toàn được tính khi tổng nợ công bằng hay dưới mức 50% GDP. Nếu cộng hai khoản nói trên, nhất là những khoản vay của các tập đoàn được chính phủ bảo lãnh trong mấy năm vừa rồi, nợ công của Việt Nam đã vượt trần.

Theo một báo cáo cuối năm rồi của Bộ Tài chính, nợ công của Việt Nam tính đến hết năm 2009 đã là 44,7% GDP (trong đó nợ Chính phủ bằng 35,4% GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh bằng 7,9% GDP và nợ chính quyền địa phương là 1,4% GDP).

Rõ ràng hai con số 41,9% GDP đưa ra vào cuối tuần trước và 35,4% GDP theo báo cáo của Bộ Tài chính đã có sự sai lệch rất lớn. Nếu tính thêm các khoản vay mới đây như phát hành trái phiếu bằng tiền đồng và ngoại tệ, vay từ các định chế tài chính quốc tế (như 500 triệu Đô la từ Ngân hàng Thế giới…) tỷ lệ này chắc chắn còn cao hơn nhiều. Cũng trong báo cáo này, tổng số dư nợ nước ngoài trung và dài hạn của quốc gia khoảng 30,5% GDP.

Chiến lược an toàn

Thiết nghĩ, một chiến lược quản lý nợ công sao cho đảm bảo an toàn không nên chỉ chú trọng đến tỷ lệ. Nếu dùng cột mốc 50% GDP sẽ có người nói ở nước này nước khác, người ta đang dùng tỷ lệ đến 80% GDP!

Vấn đề là xem xu hướng của các tỷ lệ này đang diễn tiến như thế nào. Nếu tăng với tốc độ như Ủy ban Tài chính – Ngân sách cảnh báo thì đúng là đáng lo ngại vì tỷ lệ này không sớm thì muộn sẽ vượt mốc an toàn, dù dùng mốc nào chăng nữa.

Điều quan trọng hơn cả là chú ý đến hiệu quả sử dụng các khoản vay, từ đó mới bảo đảm được dòng tiền trả nợ trong tương lai. Hiện nay dường như chúng ta mới chỉ chú trọng đến khía cạnh giải ngân cho được các khoản vay, bán cho được trái phiếu, thu tiền về đã xem là thành công. Trong khi tiền đó được sử dụng như thế nào thì chưa ai xem trọng.

Một dự án ODA chẳng hạn, cho dù thời hạn vay kéo dài đến 40 năm, thời gian ân hạn 10 năm đi nữa thì trước sau gì chúng ta cũng phải trả cho hết nợ. Dự án ODA không chỉ triển khai làm cho xong mà còn phải theo dõi xem dòng tiền nó thu về có đủ để trả nợ như cam kết trong dự án hay không.

Hay một khoản vay của một tập đoàn kinh tế được Chính phủ bảo lãnh, phải theo dõi chặt chẽ xem tiền vay có được sử dụng đúng mục đích ban đầu, tiến độ trả nợ có đúng lộ trình, hiệu quả sử dụng vốn ra sao – bởi suy cho cùng một khi đã bảo lãnh, chính ngân sách nhà nước phải đảm đương khoản nợ này nếu doanh nghiệp không có khả năng chi trả.

Trước đây việc quản lý nợ công được chia năm xẻ bảy cho rất nhiều cơ quan nhà nước quản lý, cấp bảo lãnh cho doanh nghiệp vay nợ nước ngoài cũng phân cho nhiều cơ quan. Số liệu vì vậy không được cập nhật, không thống nhất. Nay Luật Quản lý nợ công đã tập trung công việc quản lý này về cho Bộ Tài chính, là một dịp để chúng ta rà soát, tính toán lại tất cả các khoản nợ công cũng như nợ nước ngoài của Việt Nam. Bộ Tài chính bước đầu đã có những thông tin công khai về nợ công trên website của mình.

Đáng tiếc cho đến nay bản tin công khai này chỉ mới dừng lại ở các khoản nợ nước ngoài chứ chưa phải toàn bộ nợ công và thông tin chỉ mới cập nhật đến hết tháng 6/2009. Nên nhớ Luật Quản lý nợ công quy định Bộ Tài chính phải công khai thông tin về nợ công, “bao gồm tổng số dư nợ, cơ cấu nợ trong nước, nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương, số liệu vốn vay thực nhận và trả nợ hàng năm, các chỉ tiêu giám sát nợ chính phủ, nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia”.

Cuối cùng, kỳ họp Quốc hội sắp tới là kỳ họp đầu tiên sau khi Luật Quản lý nợ công có hiệu lực. Mặc dù ở trên có nói không nên chỉ chú trọng đến tỷ lệ trong quản lý nợ công, các tỷ lệ này dù sao cũng là những chỉ báo quan trọng mà Quốc hội cần theo dõi. Quốc hội cần áp dụng luật và quyết định các chỉ tiêu như nợ công so với GDP, nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, trả nợ chính phủ so với tổng thu ngân sách nhà nước.

Nợ công đang và sẽ là vấn đề của kinh tế toàn cầu trong thời điểm hiện nay. Không thể để tình trạng nợ công không ai biết rõ như trước được nữa.

Nguyễn Vạn Phú (TBKTSG)