Archive

Posts Tagged ‘van hoa’

Thử bàn chuyện văn hóa ở sân bay

October 4th, 2010 No comments

TT – Trong một lần ngồi nói chuyện phiếm chờ đến giờ lên máy bay, một vị khách người Hàn Quốc nói rằng nếu che cái bảng tên sân bay Tân Sơn Nhất hay bịt mắt ông rồi đưa vào khu vực chờ, ông sẽ không thể nhận biết được đang ở quốc gia nào.

Ông là một giáo sư tại Đại học Quốc gia Seoul.

Cảnh đón người thân ở sân bay Tân Sơn Nhất – Ảnh: Thanh Đạm
Quang cảnh ngồi chờ chuyến bay của hành khách – “thời khắc vàng” cho quảng bá chưa được tận dụng? – Ảnh: Công Thành

Từ câu nói vui đó, tôi đã làm một cuộc “khám phá” sân bay Tân Sơn Nhất để coi vì sao ông giáo sư này lại có ý kiến khôi hài như vậy.

Còn thiếu tinh thần tự tôn dân tộc

Dọc theo lối đi dẫn vào các khu vực cổng lên máy bay chiếm đa số là các cửa hàng sáng loáng ánh đèn của các nhãn hiệu cao cấp nước ngoài. Một vài gian hàng của công ty Việt Nam chủ yếu bán hàng lưu niệm nằm lọt thỏm bên trong.

Hình như phân khúc thị trường này quá nhỏ bé nên các doanh nghiệp Việt Nam bỏ qua chăng? Theo tôi, các cửa hàng trong những khu vực như vậy ngoài chức năng mang lại doanh thu trực tiếp còn có chức năng quảng bá thương hiệu rất tốt, vì số lượng hành khách vãng lai lớn và thuộc nhóm đối tượng khách hàng tiềm năng tiêu dùng cao.

Đó là chưa nói đến chức năng xã hội của doanh nghiệp khi góp phần quảng bá hình ảnh hàng Việt Nam với người tiêu dùng. Một điều đáng nói nữa là đồng VND cũng không được xem là tiền tệ chính, thậm chí bắt buộc trong mua bán tại đây. Hầu hết hàng hóa được niêm yết giá và giao dịch bằng USD.

Điều này trái ngược hoàn toàn với những sân bay quốc tế tôi có dịp ghé lại như Narita (Nhật Bản), Seoul (Hàn Quốc) hay Hong Kong. Hàng hóa thường được niêm yết và bán thông qua đồng nội tệ. Khách muốn mua hàng vui lòng đến quầy đổi tiền nằm trong sân ga để đổi ra đồng nội tệ mới mua được. Đồng ngoại tệ tạo ra sự linh hoạt trong kinh doanh nhưng đồng nội tệ tạo ra tính độc lập kinh tế.

Vấn đề thứ hai là sự áp đảo trong ngôn ngữ. Đáng lý ra ngay tại Việt Nam, dù có là sân bay quốc tế chăng nữa thì ngôn ngữ chính phải là tiếng Việt, ngôn ngữ bản địa. Nếu tôi không lầm thì tại các phiên họp quốc tế của Liên Hiệp Quốc, đại biểu quốc gia nào sử dụng ngôn ngữ quốc gia đó để phát biểu. Biết là nói sẽ chẳng ai hiểu, muốn hiểu phải qua phiên dịch, nhưng vẫn phải làm vậy vì đó là sự thể hiện tính độc lập ngôn ngữ, một phần của văn hóa dân tộc.

Ở sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất lại khác. Ngôn ngữ nói và viết trên các bảng hiệu gần như bằng tiếng Anh. Người Việt Nam nào không biết tiếng Anh vào đây sẽ nghĩ gì khi ngay tại đất nước mình họ vẫn bị lạc lõng và cản trở về mặt ngôn ngữ?

Tôi nhớ những lần ghé lại sân bay quốc tế Narita, Seoul, thậm chí Hong Kong – những nơi tiếng Anh được dùng rất phổ biến, tiếng Anh cũng không áp đảo tiếng bản địa nhiều như tại sân bay Tân Sơn Nhất.

Có phải do khách đi quốc tế của ta phần lớn là người nước ngoài nên ta phải sử dụng tiếng nước ngoài nhiều như vậy? Cứ giả sử rằng đúng là khách qua cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất chiếm đa số là người nước ngoài thì việc sử dụng tiếng Anh gần như độc tôn như vậy vì tính phổ quát cao của nó cũng chưa phải là hay. Tiếng Anh mang lại sự thuận tiện nhưng tiếng Việt sẽ mang lại sự tự tôn dân tộc.

Chưa tận dụng “cửa ngõ quảng bá”

Phim ảnh Việt Nam và các chương trình thuần Việt gần như không có mặt trên các màn hình tivi đặt tương đối nhiều tại các khu vực cổng chờ lên máy bay. Ai từng một lần đi máy bay chắc cũng biết cái cảm giác ngồi không chờ chuyến.

Chính vì vậy, các chương trình phát trên tivi thường thu hút sự chú ý của hành khách trong thời gian ngồi chờ chuyến bay. Không nói ai cũng biết những chương trình nào sẽ được phát trên hệ thống các màn hình đó. Phim tình cảm Hàn Quốc, phim hành động Mỹ, phim cổ trang Trung Quốc tràn ngập màn hình. Thỉnh thoảng là các chương trình ca nhạc tạp kỹ Việt Nam theo phong cách hiện đại của Hàn Quốc hay Đài Loan.

Rốt cuộc chúng ta đang giới thiệu không công cho văn hóa xứ người, còn văn hóa xứ ta thì cứ là “vẻ đẹp tiềm ẩn”.

Như đã nói trên, với những ưu điểm của một sân bay quốc tế lớn của quốc gia có lưu lượng hành khách đông, tiềm năng tiêu dùng và quảng cáo bằng truyền miệng lớn, khoảng thời gian dài hành khách ngồi chờ lên máy bay là một quỹ thời gian quý báu để chúng ta tận dụng quảng bá văn hóa, đất nước, con người Việt Nam một cách hữu hiệu nhất.

Nếu được tổ chức tốt, sân bay không chỉ là nơi dừng chân tạm của hành khách trên mỗi chuyến bay, hơn thế nữa nó có thể làm được nhiều điều. Sân bay là cửa ngõ và là bộ mặt văn hóa của quốc gia khi khách đến. Khi khách đi, nó đóng vai trò ôn lại những kỷ niệm mà du khách đã trải qua trong thời gian ở Việt Nam để họ không bao giờ quên về một Việt Nam tươi đẹp có bản sắc riêng không lẫn vào đâu được.

Bên cạnh đó, nó giúp hành khách mở rộng, khám phá thêm những vùng miền và nét văn hóa mà hành khách chưa có dịp trải qua khi ở Việt Nam để hẹn lần sau quay lại khám phá. Nói theo ngôn ngữ kinh doanh thì sân bay quốc tế giống như bộ phận chăm sóc khách hàng. Nó thực hiện chức năng quảng bá, củng cố và lôi kéo khách hàng quay trở lại.

Mong sao có một ngày được gặp lại vị giáo sư vui tính kia và nghe ông nói rằng nếu bịt mắt dẫn vào, ông vẫn biết chính xác đó là sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất của Việt Nam!

VŨ HOÀNG PHÚ (ĐH Nam Illinois)

(Nguồn: http://tuoitre.vn/Ban-doc/Ban-doc-gui-bai-viet/403759/Thu-ban-chuyen-van-hoa-o-san-bay.html)

Triết lý tiếng Việt trong “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”

April 14th, 2010 No comments

TT – 1. Tôi thường nghe nhiều lời bình (và cả một số bài viết) về những hiện tượng “phi lý”, “thiếu lôgic” ở tiếng Việt. Trong số này có thành ngữ “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay”. Chân thấp tay cao, sao lại thượng cẳng chân?

Có giáo sư giải thích chân đá hất lên cao, tay đập xuống nên mới nói vậy. Và cũng có bài viết theo như thế. Bạn có thể hỏi cắc cớ thế chân đạp, tay thụi có phải là thượng cẳng chân, hạ cẳng tay không? Cái “phi lý” của thành ngữ này mạnh đến nỗi hai nhà nghiên cứu văn học dân gian N.L. và L.V.Đ. trong quyển từ điển Thành ngữ tiếng Việt (1978, nxb KHXH) được đánh giá cao, khi trích dẫn thành ngữ này cũng sửa lại cho “lôgic” hơn (?): “Bà cai Hách không dám hé răng nửa lời, vì cai Hách là kẻ phàm phu, chỉ biết có thượng cẳng tay, hạ cẳng chân (Vũ Trọng Phụng, Giông tố)”. Quyển Từ điển thành ngữ VN (1993, nxb VH) của một nhóm tác giả thuộc Viện NNH cũng dựa theo lời trích dẫn đã bị sửa lại này. Thật ra nhà văn họ Vũ viết “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” (Giông tố, chương 27).

Tôi tâm đắc câu cái gì hợp lý thì tồn tại của triết gia người Đức G.W.Leibniz và đi tìm cái lý cho những cách nói có vẻ “phi lý” nhưng vẫn được dùng rất bình thường này.

2. Trước hết, mời các bạn quan sát và trả lời những câu hỏi sau:

Trong vở Thị Mầu lên chùa, người mõ “chiềng làng chiềng chạ, thượng hạ, tây đông, con gái phú ông là Thị Mầu không chồng mà chửa…”. Vì sao lời trình thượng hạ, tây đông được hiểu là lời trình tới cả làng?

Tô Hoài viết: “Họ buôn ghê lắm, thượng vàng hạ cám. Từ cái bát ăn đến sợi tơ bóng, tơ mờ của Nhật nhà cậu vẫn làm đấy…”. (Mười năm). Vì sao buôn thượng vàng hạ cám được hiểu là buôn đủ mọi thứ?

Nghĩa của câu “Làm trai cho đáng nên trai//Xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài yên” là “tài trai là đi tới nơi nào liền đưa lại yên bình cho nơi đó”. Vì sao xuống đông lên đoài được hiểu là đi khắp nơi?

Vì sao “đầu đuôi câu chuyện” được hiểu là “toàn bộ câu chuyện”?

Còn “chuyện bậy bạ của quan chức X chỉ một hôm là trong Nam ngoài Bắc đều biết” có nghĩa “… chỉ một hôm cả nước đều biết”. Vì sao cặp từ Nam – Bắc lại là cả nước?

3. Chúng ta quy nạp: các cặp từ thượng – hạ, đầu – đuôi, đông – đoài, Nam – Bắc… giống nhau ở chỗ đều trỏ hai cực của một chỉnh thể và chung nghĩa “tất cả”. Vậy đã rõ: người Việt có triết lý lấy hai cực để biểu trưng tổng thể và tạo ra nghĩa tất cả. Chúng ta nêu vài ví dụ:

Đất nước hình chữ S có hai cực Bắc – Nam, nên câu “từ Bắc chí Nam người ta đều làm thế” có nghĩa “cả nước đều làm thế”.

Theo chiều thẳng đứng có hai cực trên – dưới, nên câu “trên dưới một lòng” được hiểu là “mọi người đều một lòng”.

Theo phương mặt trời mọc lặn có hai cực Đông – Tây (Đoài là phương Tây), nên “chuyện Đông, chuyện Tây” là chuyện đủ mọi nơi trong thiên hạ. Còn “xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài yên” có nghĩa là “đi đến nơi nào là dẹp yên loạn lạc nơi đó”.

Theo trục thời gian có hai cực xưa – nay, trước – sau nên “lệ làng này xưa nay là vậy” có nghĩa là “mọi thời, lệ làng này là vậy”. Còn “trước sau vẫn vậy” nghĩa là “luôn luôn vậy”.

Theo phương nhìn thẳng có hai cực trước – sau nên “trước sau nào thấy bóng người” nghĩa là “không thấy một ai quanh ta”. Còn “mắt trước mắt sau” là “để ý tới mọi phương”.

4. Nghĩa của “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” được hình thành thế nào?

Thành ngữ này có hai cặp từ thượng, hạ và cẳng chân, cẳng tay. Cặp thượng, hạ trỏ tổng thể. Còn cẳng chân, cẳng tay là những bộ phận cơ bắp nên trỏ hành động đánh đập (giới ngôn ngữ học gọi là biểu trưng hành động đánh đập). Ghép hai phần nghĩa này lại sẽ được nghĩa của thành ngữ trên: về tổng thể là những hành động đánh đập vũ phu.

Nhiều thành ngữ có nghĩa được hình thành từ những cặp từ biểu trưng và chúng ta dễ dàng giải thích nghĩa của chúng. Ví dụ: (những mảnh ruộng, mảnh vải…) đầu thừa đuôi thẹo. Thành ngữ này có hai cặp đầu, đuôi và thừa, thẹo. Đầu đuôi trỏ tổng thể, còn thừa, thẹo trỏ những thứ không ra gì. Vậy đó là “những mảnh ruộng, mảnh vải… nhìn chung (về tổng thể) không ra gì”.

(Bọn) đầu trộm đuôi cướp. Thành ngữ này có hai cặp đầu, đuôi và trộm, cướp. Cặp trộm, cướp trỏ hạng lưu manh. Vậy “nhìn chung, đó là bọn lưu manh”.

5. Trong nhiều ngôn ngữ khác, rất ít cách nói lấy hai cực trỏ tổng thể như đã thấy trong tiếng Việt.

Và trong bài viết này, tôi cố gắng nói có đầu có đuôi để minh oan cho một thành ngữ mà không ít người đến nay vẫn tưởng là vô lý, thiếu lôgic.

TS NGUYỄN ĐỨC DÂN

(Theo Tuoitre Online)

Một truyện cười về văn hóa kém

December 16th, 2009 No comments

Lần đầu tiên, mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ, khi tìm nhà của một người quen làm trưởng một khu phố văn hóa. Thấy có mấy đứa trẻ con đang nô đùa ngoài ngõ, tôi hỏi:

“Này các cháu có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa ở đâu không?”

Một đứa trẻ trai, trạc trên dưới 10 tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo, ranh mãnh, đáp gọn lỏn:

“Biết, nhưng đéo chỉ!”

Tôi lắc đầu đi sâu vào ngõ văn hóa, gặp một thanh niên, tôi hỏi:

“Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào không anh?”.

Gã trẻ tuổi chẳng thèm dòm ngó gì đến tôi, trả lời cộc lốc:

“Ðéo biết!”

Khi gặp ông trưởng khu phố văn hóa, tôi đem chuyện này kể cho ông ta nghe với lời than thở:

“Anh ạ, các bậc phụ huynh ở đây không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với khách lạ thô bỉ đến thế hả anh?!”

Chẳng cần suy nghĩ gì, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:

“Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó đéo nghe!”

Lúc ấy cô con gái của ông bạn tôi là cô giáo, dạy môn văn, vừa đi dạy về và tôi đem chuyện ấy ra kể lại. Thay vì trả lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một chuyện như sau:

- “Hôm ấy cháu giảng bài văn, có đoạn kể thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục Tây, đánh nhào Mỹ v..v… Cuối cùng, cháu kêu một em học trò trai lớn nhất lớp, bảo nó cắt nghĩa hai chữ: “dũng cảm là gì?”.

Nó đứng lên suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn:

“Nghĩa là .. là .. đéo sợ !”

Sau đó cháu lại có cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo, liền đem chuyện thằng bé học trò đã cắt nghĩa 2 chữ “dũng cảm” là: “đéo sợ!” cho ông nghe.

Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm.

Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn cháu rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa khám phá ra một chân lý, chậm rãi đáp:

“Ừ, mà nó cắt nghĩa như thế cũng ….đéo sai ! ..

Cô kết luận:

“Ðấy, bây giờ luân lý, đạo đức của con người dưới chế độ này như thế đấy. Rồi đây, các thế hệ trẻ miền Nam cũng vậy thôi! Làm sao tránh được?”

Ông bố rầu rĩ thở dài:

“Ðất nước kiểu này thì …đéo khá .. ”

(Sưu tầm)